Chân dung nhà giáo

PGS. TS. NGƯT Lê Huy Tiêu - một đời "đắm đuối" với văn học Trung Quốc

PGS. TS. NGƯT Lê Huy Tiêu - một đời "đắm đuối" với văn học Trung Quốc

Nghiêm túc, đạo mạo nhưng lại rất mực chân thành và chứa chan tình cảm, đó là cảm nhận đầu tiên dễ thấy với ai có dịp tiếp xúc với PGS. TS Lê Huy Tiêu - người thầy suốt đời tận tụy với sự nghiệp trồng người và “đắm đuối” với công việc nghiên cứu, dịch thuật văn học Trung Quốc. Không chỉ là niềm tự hào của gia đình, dòng họ và quê hương Diêm Điền, thầy còn là tấm gương sáng cho đồng nghiệp và nhiều thế hệ học trò noi theo về lối sống chí nghĩa vẹn tình và thái độ làm việc nghiêm túc, hăng say và đầy tinh thần trách nhiệm.

Sinh ra ở một vùng quê ven biển nghèo khó - làng muối Diêm Điền (huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình), nơi người dân suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời để dâng cho đời những hạt muối quý giá mà chát mặn mồ hôi nên vốn chẳng có truyền thống học hành, nhưng, không như đa số bạn bè cùng trang lứa, PGS. TS. Lê Huy Tiêu ngay từ nhỏ đã là một cậu bé hiếu học, ham đọc sách, đặc biệt yêu thơ văn và bộc lộ thiên hướng văn chương khá sớm (đã từng đạt giải trong một cuộc thi viết văn dành cho lứa tuổi thiếu nhi thời Pháp thuộc). Lớn lên một chút, thứ thầy mê đọc nhất vẫn là tiểu thuyết, đặc biệt những bộ tiểu thuyết kinh điển của Trung Quốc luôn là những cuốn sách gối đầu giường của thầy. Văn chương đã vận vào thầy từ đây, khi mà có cơ hội được đi du học Trung Quốc thì ngành thầy chọn theo học không gì khác ngoài ngành Văn học.

Phó Giáo sư, Tiến si, Nhà giáo Ưu tú Lê Huy Tiêu/Ảnh: Thành Long

Sau khi học xong chương trình phổ thông năm 1954, thầy được cử sang Trung Quốc du học. Sau một năm học tiếng ở Khu học xá Nam Ninh, thầy chính thức trở thành sinh viên Trường Đại học Sơn Đông Trung Quốc. Trong 5 năm theo học ở ngôi trường nổi tiếng này (1955-1960), thầy luôn là một sinh viên nước ngoài xuất sắc, được thầy cô và bạn bè nể phục và yêu quý. Bằng chứng là cho đến mấy năm gần đây, trong một lần quay lại trường nhân kỷ niệm ngày thành lập trường, thầy vẫn mang về đầy ắp và vẹn nguyên tình nghĩa thầy trò, bạn bè nước bạn với những kỉ niệm của “một thời oanh liệt” tưởng chừng đã xa lắc xa lơ.

Tốt nghiệp Đại học Sơn Đông với tấm bằng loại ưu năm 1960, trở về nước, thầy được tiếp nhận vào công tác tại Khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và  gắn bó với ngôi trường thân yêu này tròn 40 năm cho đến khi nghỉ hưu (năm 2000). Trong 40 năm ròng rã đó, tiếp nối các Giáo sư Đặng Thai Mai, Trương Chính…, thầy đã góp phần không nhỏ vào việc đào tạo nhiều thế hệ học trò và phát triển ngành Trung Quốc học ở Việt Nam.

Với tư cách là một nhà giáo, hàng năm thầy lên lớp từ 200 đến 300 giờ cho sinh viên các hệ. Ban đầu, khi mới về trường công tác, thầy được phân công giảng dạy phần văn học cổ đại Trung Quốc, nhưng có thời kì thiếu cán bộ, thầy phải đảm nhiệm thêm cả phần văn học Trung Quốc hiện đại và sau này là văn học Trung Quốc đương đại. Chính công việc nặng nề đó cũng đã tạo cơ hội để thầy tiếp cận sâu hơn và đạt được những thành tựu mới trong việc nghiên cứu văn học hiện-đương đại Trung Quốc, góp phần khỏa lấp khoảng thiếu hụt của giới nghiên cứu Trung Quốc học ở Việt Nam.

Trong cuộc đời giảng dạy của mình, ngoài việc hướng dẫn cả trăm khóa luận tốt nghiệp đại học cho sinh viên của khoa như một công việc bắt buộc hàng năm, tính đến nay, sau khi đã nghỉ hưu được mười lăm năm, thầy đã hướng dẫn hàng chục học viên cao học và NCS bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ tại trường cũng như các cơ sở đào tạo khác nhưTtrường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Văn học… Với uy tín chuyên môn của mình, dù đã nghỉ hưu hơn chục năm trời, nhưng thầy vẫn thường xuyên được mời tham gia nhiều hội đồng chấm luận án Tiến sĩ ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Và gần đây thôi, tháng 9 năm 2013, mặc dù đã qua cả cái tuổi “xưa nay hiếm”, thầy vẫn được Trường Đại học Dân tộc Quảng Tây  đích thân mời làm Giáo sư thỉnh giảng cho trường này.

PGS.TS Lê Huy Tiêu thời trẻ

Vốn công tác tại một trường đại học nghiên cứu, công việc giảng dạy, đào tạo của thầy luôn song hành với nghiên cứu, thậm chí công việc nghiên cứu đôi khi có vẻ còn quan trọng hơn. Trong mấy chục năm qua, kể cả khi còn công tác lẫn lúc đã về hưu, thầy đã viết hàng chục bài nghiên cứu về văn hóa và văn học Trung Quốc đăng trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Nghiên cứu văn học, Tạp chí Trung Quốc học, Tạp chí Văn học nước ngoài,… Thầy cũng chủ trì nhiều đề tài nghiên cứu các cấp, chẳng hạn: chủ trì đề tài cấp trường Những từ Hán Việt mới xuất hiện gần đây về khoa học xã hội (nghiệm thu năm 1995), đồng chủ trì đề tài Tân thư và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (nghiệm thu năm 1997, đã được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành ngay trong năm đó). Và đặc biệt, với mong muốn dìu dắt, bồi dưỡng thế hệ trẻ khi “tre già nhưng măng chưa kịp mọc”, nên dù đã nghỉ hưu, không còn phải gánh vác trách nhiệm gì nhưng thầy vẫn đề xuất và cùng một cán bộ trẻ trong bộ môn đồng chủ trì đề tài đặc biệt cấp Đại học Quốc gia Hà Nội mang tên Sự đổi mới lý luận phê bình văn học Trung Quốc thời kỳ cải cách mở cửa (1978-2000) (nghiệm thu năm 2009, đã được chỉnh lý và in thành sách). Ngoài ra, thầy còn chủ trì nhiều hội thảo về văn học Trung Quốc, Hàn Quốc (như Hội thảo về Tân thư,  Hội thảo về Ảnh hưởng của văn hóa, văn học Hàn Quốc…) tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tham dự và viết bài cho nhiều hội thảo về văn học Trung Quốc ở Bắc Kinh, Sơn Đông, Quảng Tây…

Vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, trong bối cảnh hai nước Việt - Trung bình thường hóa quan hệ sau chiến tranh, nhu cầu học tiếng Trung và tìm hiểu văn hóa Trung Quốc ngày càng tăng, trong tình hình thiếu thốn về giáo trình tài liệu, đặc biệt là sách công cụ, thầy đã cùng các đồng nghiệp kịp thời biên soạn bộ Từ điển Trung - Việt (NXB KHXH, 1993). Bộ từ điển này sau đó được tái bản nhiều lần và cho đến nay vẫn được đánh giá là một trong những bộ từ điển Trung - Việt tốt nhất, được người học ưa chuộng. Ngoài ra, bằng kiến thức sâu rộng về văn hóa – văn học Trung Quốc, thầy còn biên soạn những cuốn sách có giá trị như: Từ điển thành ngữ điển cố Trung Quốc (NXB KHXH, 1993), Truyện ngụ ngôn Trung Quốc (NXB Phụ nữ, 1993)…

Với sự am tường về tiểu thuyết Minh Thanh và ngôn ngữ Trung Quốc, thầy (cùng với người đồng nghiệp thân thiết của mình là PGS. Lê Đức Niệm) thường được các nhà xuất bản mời hiệu đính và viết lời giới thiệu cho bản dịch tiếng Việt các tác phẩm kinh điển của văn học Trung Quốc mà họ xuất bản. Những kiệt tác như: Tam Quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Hồng lâu mộng, Đông Chu liệt quốc… được xuất bản ở Việt Nam chủ yếu  do thầy hiệu đính và giới thiệu với những quan điểm mới mẻ.

Ngoài công tác giảng dạy, nghiên cứu, người ta còn biết đến thầy với tư cách một dịch giả có tiếng. Trong suốt cuộc đời làm nghề của mình, thầy đã chủ biên dịch thuật hoặc đích thân dịch thuật nhiều công trình, tác phẩm quan trọng và có giá trị.

Trước hết, ý thức được sự thiếu hụt về giáo trình, tài liệu tham khảo về văn học Trung Quốc, nhằm tạo điều kiện cho sinh viên trong việc tiếp nhận nền văn học nước ngoài, tránh tình trạng “học chay”, thầy đã đề xuất và đứng ra chủ trì dịch thuật nhiều bộ giáo trình và tác phẩm có giá trị trong nền văn học Trung Quốc, chẳng hạn chủ biên dịch thuật các bộ giáo trình: Lịch sử văn học Trung Quốc cổ đại, Lịch sử văn học Trung Quốc hiện đại, Lịch sử văn học Trung Quốc đương đại; hay dịch rất nhiều tiểu thuyết, truyện vừa, tập truyện ngắn của các nhà văn đương đại nổi tiếng như Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, cho các nhà xuất bản Văn học, Hội Nhà văn, Giáo dục, Lao động…

Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng diễn ra sâu sắc và xu thế hội nhập ngày một mạnh mẽ, những lý thuyết văn nghệ mới mà Trung Quốc tiếp thu của Phương Tây và vận dụng vào Trung Quốc ngày càng trở nên phổ biến, trong khi chúng ta thường là “kẻ đi sau”, ý thức được điều đó, thầy cũng đã quan tâm đến việc dịch và giới thiệu lý luận văn học phương Tây cũng như việc vận dụng nó ở Trung Quốc, như các lý thuyết về Văn học so sánh, Văn học hậu hiện đại, thơ mông lung, nghệ thuật dòng ý thức…

Có thể nói, PGS. TS. Lê Huy Tiêu là một nhà giáo đa năng, ngoài là thầy giáo, nhà nghiên cứu, dịch giả, thầy còn là một “nhà báo không thẻ”.  Hàng chục năm qua, thầy là cộng tác viên quen thuộc của rất nhiều tờ báo như: Văn nghệ, Thanh niên, Tiền Phong, Nhân dân, Lao động, Hồn Việt, Thế giới mới, Kiến thức ngày nay… với hàng trăm bài báo về văn hóa, văn học Trung Quốc. Ở lĩnh vực này, thầy đóng vai trò như một vị đại sứ giao lưu văn hóa-văn học Việt – Trung vậy.

Lấy tiêu đề cho bài viết về thầy là Một đời “đắm đuối” với văn học Trung Quốc, người viết chẳng hề dùng “thủ pháp khoa trương”. Không “đắm đuối” là gì, khi nghỉ hưu đã mười lăm năm (đúng bằng thời gian đằng đẵng lưu lạc của Thúy Kiều) và đã tròn “bát thập”, mà thầy vẫn ngày đêm miệt mài với từng con chữ, để rồi chỉ trong vòng dăm năm gần đây đã ra đến mấy đầu sách (dịch và viết): Tiểu thuyết Trung Quốc thời kì Cải cách mở cửa (NXB Giáo dục Việt Nam, 2011), Giáo trình văn học so sánh  (dịch, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011), Đổi mới lý luận phê bình văn học Trung Quốc thời kỳ đổi mới (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014), chưa kể rất nhiều bài viết in đều đặn trên các tạp chí (như tạp chí “Lý luận phê bình văn học nghệ thuật”) và các báo. Không “đắm đuối” thì sao thầy vẫn luôn quan tâm đến những vấn đề thời sự văn học, đặc biệt là rất quan tâm đến các hội thảo về văn học dịch và văn hóa-văn học Trung Quốc. Mới vừa năm ngoái thôi, khi Khoa Văn học tổ chức Hội thảo Quốc tế về văn học dịch, chúng tôi một phần (tự trong tiềm thức thôi) là lo cho sức khỏe của thầy (thầy hay bị huyết áp, đau tim và đã từng phải đặt stent), một phần vì sự “đểnh đoảng” của tuổi trẻ, chẳng ai nghĩ đến chuyện báo cho thầy, sau khi hội thảo diễn ra thầy mới biết tin, thầy rất buồn và tiếc nuối, thầy có trách nhưng không giận chúng tôi. Thầy vẫn thế, luôn nhân hậu và bao dung trước lỗi lầm của “con trẻ”. Điều đó khiến chúng tôi càng thấy mình có lỗi và áy náy. Nhân đây xin được có lời tạ lỗi với thầy về sự vô tâm của các học trò.

Một điều đáng quý, và cũng nói lên cái sự “đắm đuối” của thầy không chỉ trong khoa học mà còn trong lĩnh vực tình cảm, đó là  thầy luôn quan tâm đến việc dìu dắt, bồi dưỡng cán bộ trẻ trong việc dịch thuật và nghiên cứu bằng cách nhận đề tài nghiên cứu của trường, nhận dịch sách Trung Quốc để tạo điều kiện cho cán bộ trẻ tham gia. Ngay ở thời điểm hiện tại, thầy vẫn không ngừng tìm kiếm những cuốn sách hay, liên hệ xin bản quyền, tài trợ để cho lớp trẻ tham gia dịch thuật và thầy thường đóng vai trò hiệu đính, với suy nghĩ để cho “chúng” vừa kiếm thêm thu nhập vừa bồi dưỡng chuyên môn. Có lẽ chỉ có bằng thứ tình cảm “cá chuối đắm đuối vì con” thầy mới làm được những điều như vậy. Ở đây, xin được thay mặt mọi người cảm ơn thầy về tất cả.

Với sự nghiêm cẩn vốn có từ trong tính cách, cho dù làm bất cứ  việc gì, lên lớp, viết bài hay hướng dẫn nghiên cứu sinh, thầy đều làm việc với một tình thần nghiêm túc, không bao giờ làm qua loa, lấy lệ. Có thể nói sự nghiêm túc đã trở thành “thương hiệu” của thầy. Đến mức nhiều người quen biết, khi làm nghiên cứu sinh, đã mang cả luận án của mình (thậm chí có những luận án mà đề tài hoàn toàn xa lạ với lĩnh vực nghiên cứu của thầy) đến nhờ thầy đọc giúp trước khi trình Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước). Tiếng lành đồn xa, nhiều nghiên cứu sinh Việt Nam sang Trung Quốc học tập cũng tìm đến nhờ thầy  giúp đỡ. Nhiều sinh viên ở miền Nam dù thầy chưa hề biết mặt cũng viết thư nhờ thầy chỉ bảo, góp ý. Với ai thầy cũng đều nhiệt tình và vô tư giúp đỡ. Tất cả đủ để thấy sự nghiêm túc, cẩn trọng của thầy trong công việc, lòng nhiệt thành, trong sáng vô tư của thầy trong cuộc sống đã “hữu xạ tự nhiên hương” thế nào.

Để kết thúc bài viết này, người viết muốn nhắc đến một câu chuyện chẳng liên quan gì đến khoa học mà thầy hay kể với tôi bằng niềm tự hào xen lẫn sự bồi hồi xúc động về những hồi ức xa xăm. Chuyện là trong những ngày gian khó thời chiến tranh chống Mỹ, có thời gian trường sơ tán ở Đại Từ (Thái Nguyên), thầy được phân công phụ trách sản xuất để tăng thêm khẩu phần ăn cho cán bộ. Mọi công việc từ cuốc đất, trồng rau, bón phân, tưới tắm, thầy đều luôn tích cực đi đầu, không quản khó khăn, hơn nữa còn động viên anh em cùng chung tay tăng gia sản xuất, chia ngọt sẻ bùi.…. Dù khó khăn gian khổ, nhưng nó đã trở thành kỷ niệm đẹp không thể phai mờ trong kí ức thầy về một thời gian khó. Có lẽ đến đây phẩm chất của “trai làng muối” đã được phát huy triệt để: nhiệt tình hăng say lao động, trách nhiệm với công việc, và đáng quý hơn là cái tình cảm sâu lắng, mặn mòi như chính hạt muối của quê hương Diêm Điền vậy.

PHÓ GIÁO SƯ, TIẾN SĨ, NHÀ GIÁO ƯU TÚ LÊ HUY TIÊU

  • Năm sinh: 1935.
  • Quê quán: Thái Bình.
  • Tốt nghiệp ngành Văn học tại Đại học Sơn Đông (Trung Quốc) năm 1960.
  • Nhận bằng Tiến sĩ chuyên ngành Văn học tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1988.
  • Được công nhận chức danh Phó Giáo sư năm 1991.
  • Được tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm  2000.
  • Thời gian công tác tại Trường: 1960 -2000.

+ Đơn vị công tác:

Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội).

+ Chức vụ quản lý:

Chủ nhiệm Bộ môn Văn học Phương Đông, Khoa Ngữ văn (1989-1997).

  • Các hướng nghiên cứu chính: Văn học cổ Trung Quốc, tiểu thuyết Minh Thanh, Nho giáo, văn học hiện - đương đại Trung Quốc
  • Các công trình khoa học tiêu biểu:

Từ điển Trung Việt (viết chung, NXB KHXH, 1992).

Từ điển thành ngữ điển cố Trung Quốc (NXB KHXH, 1993).

Truyện ngụ ngôn Trung Quốc (NXB Phụ nữ, 1993).

Tân thư và xã hội Việt Nam (đồng chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, 1997).

Cảm nhận mới về văn hóa và văn học Trung Quốc (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004).

Tiểu thuyết Trung Quốc thời kì Cải cách mở cửa (NXB Giáo dục Việt Nam, 2011).

Đổi mới lý luận phê bình văn học Trung Quốc thời kỳ đổi mới (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014).

Tác giả: ThS. Nguyễn Thanh Diên

Nguồn: http://www.ussh.vnu.edu.vn

PGS.TS Nguyễn Kim Sơn - người say mê nghiên cứu Nho học trong thời hiện đại

PGS.TS Nguyễn Kim Sơn - người say mê nghiên cứu Nho học trong thời hiện đại

PGS.TS Nguyễn Kim Sơn sinh năm 1966 tại Hải Phòng. Rời ghế nhà trường phổ thông với những dự định nghề nghiệp rõ ràng, nhưng những năm tháng trên giảng đường đại học đã giữ chân ông lại. Niềm đam mê nghiên cứu khoa học đến với ông từ ngày còn là sinh viên ngành Hán Nôm tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội từ năm 1985 đến 1990. Năm cuối cùng (1990), ông được Bộ Giáo dục và Đào tạo trao giải nhất cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học (cuộc thi đầu tiên do Bộ tổ chức). Cũng năm đó, ông tốt nghiệp loại xuất sắc và được chuyển tiếp nghiên cứu sinh, đồng thời bắt đầu công việc giảng dạy tại Bộ môn Hán Nôm, Khoa Ngữ văn (bây giờ là Khoa Văn học, Trường ĐHKHXH&NV).

Học chuyên ngành bậc đại học là Hán Nôm, nhưng khi làm nghiên cứu sinh, PGS Nguyễn Kim Sơn lại lựa chọn Văn học Việt Nam, với đề tài: Những khuynh hướng của Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX và sự tác động của nó tới văn học. Luận án này thiên về góc độ triết học và văn học - hai lĩnh vực chính sau này sẽ gắn bó lâu dài với sự nghiệp nghiên cứu của ông, đi sâu tìm hiểu về các tác gia và các trước thuật Nho học thể hiện những khuynh hướng khác nhau của Nho học Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX. Cơ duyên đưa ông trở thành một trong những học trò “chân truyền” cuối cùng của PGS Trần Đình Hượu. Chịu ảnh hưởng mạnh của người thầy hướng dẫn, ông bị hấp dẫn bởi các định hướng nghiên cứu đa dạng và liên ngành theo chiều sâu: văn học - triết học - lịch sử - Hán Nôm. Năm 1995, PGS Trần Đình Hượu mất, Khoa Ngữ văn phân công PGS Bùi Duy Tân tiếp tục hướng dẫn luận án cho ông. Năm 1996, ông bảo vệ luận án được hội đồng đánh giá đặc biệt xuất sắc.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Kim Sơn/Ảnh: Bùi Tuấn

Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ, ông được phân công về làm giảng viên tại Bộ môn Văn học Trung đại Việt Nam, giảng dạy phần Văn học Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XVIII, đồng thời tiếp tục giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành Hán Nôm, Triết học và Đông Phương học. Ngay từ khi đang làm nghiên cứu sinh cũng như những năm cuối thập kỷ 90, sau khi đã bảo vệ thành công luận án, ông đặc biệt quan tâm tới các nghiên cứu về Nho giáo, mỹ học Nho giáo của nhà nghiên cứu Lý Trạch Hậu (Trung Quốc). Những hướng nghiên cứu Nho giáo, nhà nho và mỹ học Nho gia của Lý Trạch Hậu đã hấp dẫn và ảnh hưởng sâu sắc tới ông, từ đó cuốn hút ông quan tâm tới đối tượng văn học trung đại và tư tưởng Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn nhân học và thẩm mỹ. Ông là nhà nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam đã đi theo hướng này, tiếp cận văn học trung đại từ góc độ giải mã thẩm mỹ tác phẩm văn học, không chỉ trong phạm vi văn học nhà Nho mà cả Phật, Đạo. Từ các đề tài nghiên cứu, bài viết, chuyên đề sau đại học và các luận văn, luận án hướng dẫn cho học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành văn học đều tập trung theo hướng này. Ông đã bắt đầu từ cội nguồn triết học của các loại hình văn chương này để tiếp cận văn bản tác phẩm, soi chiếu chúng từ bình diện đặc trưng thẩm mỹ. Các phác thảo của ông về đặc trưng thẩm mỹ của văn học Nho gia, Phật giáo và Đạo gia đã đặt nền móng cho một hướng tiếp cận văn học trung đại mới ở Việt Nam. Những năm gần đây, ông đặc biệt chú ý và dồn nhiều tâm sức vào nghiên cứu các tác phẩm văn học Phật giáo. Những công trình về Trần Nhân Tông, Huyền Quang, về đặc trưng thẩm mỹ của thơ Thiền… của ông đã thổi một luồng gió mới vào việc nghiên cứu và tiếp nhận mảng văn chương khó bậc nhất của văn học trung đại Việt Nam mà nhiều năm nay các chuyên gia văn học trung đại vì nhiều lý do vẫn né tránh hoặc chưa quan tâm đến. Có thể nói, hiện nay PGS.TS Nguyễn Kim Sơn là một trong những chuyên gia có sự thâm nhập sâu và kiến giải độc đáo về mảng văn học Phật giáo.

PGS.TS Nguyễn Kim Sơn cũng đặt rất nhiều tâm huyết vào việc nghiên cứu lịch sử Nho giáo Việt Nam. Đối tượng ông chú ý tới là chủ thể nhà nho, tầng lớp sĩ. Đây cũng chính là đề tài ông đã tập trung thực hiện trong thời gian nghiên cứu ở Viện Harvard-Yenching (Hoa Kỳ). Các nghiên cứu của ông nhìn sự vận động của lịch sử Nho giáo Việt Nam thông qua chủ thể nho sĩ, sĩ tộc và các quan hệ xã hội của tầng lớp sĩ. Đồng thời, ông cũng tập trung vào vấn đề tiếp nhận và thảo luận về kinh điển Nho gia của các nhà Nho Việt Nam trong lịch sử. Trong nghiên cứu Nho giáo, ông đặc biệt chú ý tới vấn đề tu dưỡng luận, tâm tính học của Nho giáo, một vấn đề chuyên sâu mà theo quan điểm của ông là thể hiện những đặc trưng bản chất của Nho giáo mà các thế hệ nghiên cứu trước vì quá thiên về phương diện xã hội, phương diện chính trị của Nho giáo nên chưa chú ý đúng mức. Hướng nghiên cứu này cũng nhất quán và thành hệ thống trong các nghiên cứu cá nhân, bài viết, đề tài khoa học của ông, kể cả trong các nghiên cứu về văn học nhà Nho. Về mảng nghiên cứu Nho học, cần phải kể đến các hoạt động tổ chức hội thảo, tọa đàm mà Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc học do ông làm Giám đốc tổ chức thường niên với quy mô từ trong nước đến quốc tế, quy tụ được các nhà nghiên cứu Nho học hàng đầu ở Việt Nam và trên thế giới, nhằm cố gắng đưa hoạt động nghiên cứu Nho giáo ở Việt Nam bắt nhịp được với quốc tế. Hiện ông là Ủy viên Hội đồng biên soạn tùng thư Nho tạng, tinh hoa biên của Trung tâm Nho Tạng Đại học Bắc Kinh Trung Quốc; Phó trưởng ban điều hành Hiệp hội nghiên cứu Nho giáo thế giới từ năm 2014. Những nỗ lực ấy hiện thực hóa bởi những công trình mang tính quốc tế do ông chủ biên: bộ Nho tạng tinh hoa biên, Việt Nam quyển (2 tập), Nguyên điển Nho học Việt Nam hợp tác với Đài Loan… và các công trình khác đang trong quá trình thực hiện.

Ảnh: Bùi Tuấn

Những năm gần đây, dù công việc quản lý chiếm nhiều thời gian, nhưng PGS.TS Nguyễn Kim Sơn vẫn đã và đang trực tiếp giảng dạy hoặc phụ trách giảng dạy rất nhiều môn học cho cả hai bậc đại học và sau đại học. Đó là: Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo cho bậc cử nhân ngành Hán Nôm, Nho giáo và văn hóa Đông Á” cho cao học Châu Á  học; Luận ngữ; Mạnh tử cho thạc sĩ Hán Nôm, Các bình diện thâm mỹ của văn học trung đại cho cao học Văn học, chuyên đề Thuyên thích học truyền thống và hiện đại cho nghiên cứu sinh Hán Nôm, Nho giáo với tư cách là một tôn giáo cho bậc cao học Tôn giáo học… Một khối công việc khổng lồ mà không phải ai cũng có thể làm hết được. Nhưng đó là niềm say mê, yêu thích của PGS Nguyễn Kim Sơn. Ông yêu công việc giảng dạy ngay cả khi công việc quản lý bận rộn chiếm gần hết thời gian của mình. Từ những ngày đầu tham gia giảng dạy, ông luôn được học trò ngưỡng mộ vì kiến văn, khả năng truyền đạt, vì lòng nhiệt huyết và nhất là tinh thần cởi mở trong khoa học. Ông không chỉ truyền đạt lại cho sinh viên kiến thức, mà quan trọng hơn đem lại cho họ tình yêu và thái độ cần có đối với việc nghiên cứu khoa học. Một trong những niềm đam mê của ông chính là truyền lại sự đam mê khoa học của mình cho người khác. Ông đã “rủ rê” được nhiều sinh viên có tư chất theo con đường nghiên cứu lắm chông gai nhưng cũng hứa hẹn nhiều vinh quang này. Học trò dù chỉ học trên lớp hay được ông hướng dẫn, phản biện khóa luận, luận văn, luận án đều nhận được ở ông không chỉ sự nhiệt tình, hết lòng chỉ dẫn mà còn thái độ tôn trọng và bình đẳng trong khoa học. Tất cả những điều ấy khiến chúng tôi đều tự hào vì được làm học trò của ông.

Giá có thể ước điều gì, hẳn điều PGS.TS Nguyễn Kim Sơn mong mỏi nhất là mỗi ngày có 48 tiếng hoặc hơn thế, để ông có thể vừa thực hiện tốt được những trách nhiệm trong công việc quản lý, vừa có thể hoàn thành những món nợ đối với nghiệp nghiên cứu khoa học mà ông luôn tâm niệm là mình nhất định phải trả.

PHÓ GIÁO SƯ, TIẾN SĨ NGUYỄN KIM SƠN

  • Năm sinh: 1966.
  • Nơi sinh: Hải Phòng.
  • Tốt nghiệp đại học tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1990.
  • Nhận bằng Tiến sĩ Ngữ văn tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn năm 1996.
  • Được công nhận chức danh Phó Giáo sư năm 2005.
  • Thời gian công tác tại trường: 1991- 2011.

+ Đơn vị công tác:

Khoa Văn học.

Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc học.

Ban Giám hiệu.

+ Chức vụ quản lý:

Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc học (2002- 2006).

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc học (2006 đến nay).

Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2009-2011).

Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội (2012 đến nay).

  • Các công trình khoa học tiêu biểu:

1.  Cuộc vận động cải cách văn thể, tâm thái sĩ phu và động hình của văn chương Việt Nam cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, trong Nghiên cứu văn học Việt Nam những khả năng và thách thức (viết chung), NXB Thế Giới, 2009.

2.  Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 1998.

3. Từ điển Tác giả, tác phẩm Văn học Việt Nam (dùng cho nhà trường), NXB Đại học Sư Phạm, 2000.

4. Nho tạng tinh hoa biên, Việt Nam (chủ biên, 2 tập), NXB Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc, 2013.

5. Nguyên điển Nho học Việt Nam (chủ biên, 10 tập), NXB Đại học Quốc gia Đài Loan (2013-2015).

  • Các giải thưởng khoa học tiêu biểu:

Giải Bạc Sách hay của Hội Xuất bản Việt Nam năm 2011 cho công trình: Tư liệu văn hiến Thăng Long- Hà Nội, Tuyển tập địa chí (3 tập, đồng chủ biên), NXB Hà Nội, 2011.

 

Tác giả: TS. Đỗ Thu Hiền

Nguồn: http://www.ussh.vnu.edu.vn

Giáo sư Trần Ngọc Vương: Văn chương là hành động

Đọc các công trình của Trần Ngọc Vương, từ Loại hình học tác gỉa văn học… qua Văn học Việt Nam Dòng riêng giữa nguồn chung đến Thực thể Việt nhìn từ các toạ độ chữ, có thể nhận thấy một khái niệm thường xuyên được ông nhắc lại: hệ hình. Nếu ngôn ngữ là sự phản ánh tư duy thì hệ hình là khái niệm phản ánh trung thành nhất đường lối tư duy Trần Ngọc Vương. Là một nhà nghiên cứu ngữ văn học nhưng trên hết, là một nhà nghiên cứu khoa học nhân văn, cái nhìn của Trần Ngọc Vương luôn là một cái nhìn mang tính tổng thể.

 

1. Có những sự lặp lại mà khi suy nghĩ về nó, sự tương đồng, thậm chí, đến mức trùng khít, khiến người ta không thể nghĩ đó là sự ngẫu nhiên. Tôi muốn nói đến sự lựa chọn của Trần Đình Hượu và Trần Ngọc Vương khi các ông sang Liên bang Xô Viết, bước ngoặt quan trọng của cuộc đời các ông. Cả hai đều có những lựa chọn mà không dễ hiểu ngay với người ngoại đạo và cả người “nội đạo”. Ở thời điểm giữa những năm 50 của thế kỷ trước, khó có ai lại có thể tưởng tượng được việc Trần Đình Hượu, một đảng viên cộng sản, khi đặt chân đến Liên Xô lại lựa chọn đối tượng nghiên cứu là một nhà hiền triết, một nhà tư tưởng của Trung Quốc thời Tiên Tần, một nhà tư tưởng mà thoạt nhìn, không có mấy liên hệ với Việt Nam và Việt Nam thời điểm vừa kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp và bắt đầu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trần Ngọc Vương cũng vậy. Thời gian ông sang học tại Liên Xô (1988 – 1993)  là giai đoạn Perestroika và sau đó là sự sụp đổ của Liên bang Xô viết. Gió đổi chiều và cửa thì đã mở. Những ban nhạc rock của phương Tây đặt chân và biểu diễn ở những nơi chốn mà có lẽ trước đó chỉ vài năm họ chỉ có thể đến bằng một chiếc máy bay thể thao, hạ cánh xuống, nhận án tù nhiều năm và để rồi được trao trả như những tù binh, gián điệp. Những chia rẽ và đối kháng của chiến tranh lạnh đã tạm thời lắng xuống. Nước Nga đã trở nên cởi mở và khoan dung hơn với chính mình và với thế giới. Nhiều di sản của quá khứ được đánh giá lại. Nhiều nhà nghiên cứu một thời bị coi là “dị giáo” được phục hồi và thậm chí, được đề cao. Tư tưởng và lí thuyết nghiên cứu của phương Tây được tiếp nhận, không phải như những kẻ thù mà với một thái độ thân thiện hơn trước đó rất nhiều. Nghiên cứu hình thức, phân tâm học hay thậm chí cả cấu trúc luận, hậu cấu trúc luận ít nhất, đã được giới thiệu một cách hết sức đầy đủ và hệ thống. Cần nhắc lại một điều tưởng trớ trêu nhưng lại rất thật là ít nhất, cho đến hôm nay, cuốn từ điển Triết học phương Tây hiện đại tử tế nhất mà chúng ta có chính là cuốn từ điển do NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 1996, là bản dịch cuốn từ điển được biên soạn ở Mátxcơva năm 1991. Nói như vậy, để thấy được những sự thay đổi khủng khiếp của thời cuộc và học thuật ở nước Nga cuối giai đoạn cải tổ và trong những năm tháng khi Liên bang Xô viết sụp đổ.

Trong một bối cảnh như thế, với trách nhiệm đổi mới học thuật ở trong nước, một nghiên cứu sinh chắc chắn sẽ dễ bị lôi cuốn bởi những lí thuyết mới mẻ, tân kỳ, sẽ bị những nghiên cứu hình thức hoặc phân tâm, cấu trúc luận lôi cuốn. Trong bối cảnh học thuật ở Việt Nam những năm 80 của thế kỷ trước, những lí thuyết đó không phải là không có tác dụng lớn trong việc điều chỉnh cái nhìn đối với văn chương, điều chỉnh cách tiếp cận hiện thực văn chương vốn từ lâu, bị thống ngự bởi cách nhìn xã hội học nhiều khi bị biến thành dung tục mà lãng quên hoặc hạ thấp bản chất thẩm mỹ và sáng tạo cá nhân của văn chương. Thế nhưng Trần Ngọc Vương lại có một lựa chọn khác. Ông theo đuổi loại hình học tác giả, một tiếp cận mà ở thời điểm đó ít nhiều đã thành cổ điển, cả trong ý nghĩa là không còn thời thượng. Cũng cần phải nói thêm đó cũng chính là thời điểm mà ở phương Tây, những luận đề về cái chết của tác giả đang ồn ào và đã thổi hơi nóng của nó đến nước Nga giá lạnh. Và để có được lựa chọn đó, Trần Ngọc Vương đã bỏ qua một lựa chọn khác: từ bỏ học thuật để đưa thuyết duy vật từ địa hạt lí thuyết vào địa hạt thực hành.

Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Ưu tú Trần Ngọc Vương

Điều kì diệu là chính sự lựa chọn tưởng như bảo thủ đó lại làm nên một công trình với rất nhiều khám phá, một chuyên luận đã được giới học thuật xếp vào hàng cổ điển: Loại hình học tác giả văn học - nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam. Là sự phát triển từ những ý tưởng sâu sắc cùa nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu, cuốn chuyên luận lần đầu tiên trình ra một cách đầy đủ, hệ thống và sâu sắc nhất diện mạo của một loại hình tác giả có vai trò đặc biệt lớn trong việc hình thành nền văn học có tính nghệ thuật ở Việt Nam. Đó là một nhát cắt thiên tài khi mà qua một loại hình tác giả, có thể hình dung về những loại hình tác giả văn chương – trí thức khác có vai trò quan trọng trong việc kiến tạo nên lịch sử và văn hoá Việt Nam. Và ở phương diện này, đóng góp của Trần Ngọc Vương không phải là nhỏ. Có thể nói, sau Trần Trọng Kim và những bài viết về Đạo Khổng của Trần Đình Hượu, người đọc có thể có được một cái nhìn khác về Đạo Khổng, hiện diện qua những chân dung con người và khác với cái nhìn vẫn ngự trị trong giới học thuật suốt nhiều chục năm gắn với những hệ hình nhiều khi bị giản lược về phong kiến và yêu nước. Lựa chọn loại hình học nhà Nho để làm luận án ở Liên bang Xô viết, Trần Ngọc Vương đã tiếp nhận phần tinh hoa nhất, giàu tính nhân bản và nhân văn nhất của học thuật hàn lâm của nước Nga và liên bang Xô viết. Đó là ngữ văn học và Đông phương học Nga cổ điển. Đó là cái nền tảng quan trọng để kiến tạo khoa học cơ bản trong lĩnh vực ngữ văn, cái nền trắng mà có lần chính Khổng tử, ví Thánh của đạo Nho từng nói với học trò. Ẩn sâu dưới lựa chọn ấy là một khát vọng mãnh liệt, được trả giá bằng những đau khổ của cuộc đời, những đau khổ không hề học thuật, về một nền khoa học cơ bản có giá trị lâu bền, một cái gì bất diệt đảm bảo cho tương lai, như cách nói của Hoài Thanh.

2. Đọc các công trình của Trần Ngọc Vương, từ Loại hình học tác gỉa văn học… qua Văn học Việt Nam Dòng riêng giữa nguồn chung đến Thực thể Việt nhìn từ các toạ độ chữ, có thể nhận thấy một khái niệm thường xuyên được ông nhắc lại: hệ hình. Nếu ngôn ngữ là sự phản ánh tư duy thì hệ hình là khái niệm phản ánh trung thành nhất đường lối tư duy Trần Ngọc Vương. Là một nhà nghiên cứu ngữ văn học nhưng trên hết, là một nhà nghiên cứu khoa học nhân văn, cái nhìn của Trần Ngọc Vương luôn là một cái nhìn mang tính tổng thể. Đường hướng đó được bộc lộ ngay từ trong chuyên luận đầu tiên của ông về loại hình học tác giả văn học. Lấy tác giả, chủ thể sáng tạo làm trung tâm khảo sát, trong công trình của ông, con người sáng tạo ấy luôn được đặt trong những mối quan hệ chằng chịt với tiểu sử, kể cả những phần khuất lấp, sâu kín mà chỉ có những người “đằm mình” (như cách ông vẫn thường nói) trong tư liệu mới có thể nhìn thấy; với thời đại, trong tính phức tạp  và đa chiều kích của lịch sử (chứ không phải chỉ là một lịch sử bị giản hoá và chính trị hoá cùng cực); và trên hết, của những nền tảng lịch sử tư tưởng, triết học mà trên đó, hành vi viết được kiến tạo. Văn chương được nhìn nhận trong suốt chiều dài lịch sử của nó, với tất cả những liền mạch và đứt đoạn. Chính vì vậy, dù không phải là một chuyên gia nghiên cứu văn học hiện đại nhưng nếu đọc kĩ Loại hình học… của Trần Ngọc Vương, ta vẫn có thể nhận thấy những sự thác sinh của văn chương nhà Nho tài tử trong nhiều giai đoạn kế tiếp, cả khi loại hình tác giả này không còn nữa. Và hoàn toàn không phải là một trò chơi chữ khi tập sách thứ hai của ông có tên Văn học Việt Nam - Dòng riêng giữa nguồn chung. Cái dòng riêng văn học dân tộc được giải mã, được phân tích, được đọc, cắt nghĩa và diễn dịch thông qua việc đặt trong nguồn chung của lịch sử và lịch sử tư tưởng của Việt Nam, Đông Á và thế giới. Và như một tất yếu khi mà công trình đồ sộ thứ ba của ông đã vượt khỏi phạm vi văn chương. Đó là một tham vọng tìm ra những yếu tố bản chất, những đặc điểm có tính hằng số, những quy luật bản chất nhất của thực thể Việt theo chiều dài lịch sử, nhìn từ những con chữ không chỉ là văn chương. Chính vì lí do đó, những công trình của Trần Ngọc Vương không chỉ là nguồn tham khảo hẹp trong chuyên ngành ngữ văn học mà còn mang đến những gợi ý hết sức quan trọng cho những chuyên ngành tương cận như lịch sử, lịch sử tư tưởng và lịch sử chính trị học.

Ảnh: Thành Long

Nếu nói theo chính cách nói của tác giả thì từ những công trình của Trần Ngọc Vương, thấy hiện lên hình dung về một loại hình học giả đặc biệt. Đó là kiểu người hoà quyện được cả phẩm chất của một chuyên gia và một nhà bác học. Mỗi bài viết, mỗi công trình của ông là sự khai thác đến hết kiệt, “đi hun hút” (cũng vẫn là cách nói của chính tác giả) một vấn đề theo một hướng tiếp cận. Nhưng, sự hết kiệt đó lại hết sức năng sản và giầu tính gợi mở. Đó chính là do mỗi vấn đề ở ông đều được đặt trong những đường link hết sức phức tạp đến những lĩnh vực tri thức khác. Để làm được điều đó, người nghiên cứu cần phải kiến tạo tri thức của mình trên rất nhiều lĩnh vực. Có thể nói, Trần Ngọc Vương thuộc về kiểu những nhà nghiên cứu – nhà bách khoa mà trong thời đại ngày nay, khi tính chuyên nghiệp và chuyên sâu của các phân môn nghiên cứu trở nên hết sức phức tạp thì càng ngày, kiểu người ấy càng thiếu vắng trong đời sống học thuật. Ông là sự tiếp nối của một truyền thống những Đào Duy Anh, Trương Tửu, Đặng Thai Mai, Trần Đình Hượu, Hà Văn Tấn…, một truyền thống mà nếu thiếu vắng, sẽ khó có thể có cái gọi là khoa học cơ bản đúng nghĩa.

3. Không phải là ngẫu nhiên khi cả cuộc đời nghiên cứu văn chương cho đến ngày hôm nay, cái mà Trần Ngọc Vương lựa chọn không phải là văn bản hay thể loại mà chính là tác giả. Đọc những chuyên luận của ông về Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu và đặc biệt là Tản Đà, có thể thấy ông không hề chối bỏ tính phức tạp của thực thể người, không hề quay lưng lại với những miền khuất sâu kín của tiểu sử. Tuy vậy, ở ông, có một sự chối bỏ kiên quyết việc quy giản những miền khuất ấy chỉ vào những xung năng mang tính sinh học hoặc những ham muốn mang tính cá thể theo kiểu phân tâm học cổ điển. Ở điểm này, Trần Ngọc Vương không hề xa lạ với những người làm phân tâm học sau K. Jung. Đối với ông, con người, dù là người nghệ sĩ, trước hết, vẫn luôn là một sinh vật xã hội. Văn chương, đối với ông không phải là một trò chơi ngôn từ, một sự giải phóng xung năng sáng tạo thuần tuý mà trước hết và trên hết, là một sự đảm nhiệm trách nhiệm xã hội. Phải chăng đó cũng chính là căn nguyên khiến Khổng giáo, học thuyết nhập thế nhất trong các học thuyết tư tưởng Đông Á trở thành nỗi ám ảnh của cả cuộc đời nghiên cứu của ông. Và không những thế, ông còn mang chính cái quan niệm ấy vào công việc nghiên cứu và học thuật của mình. Hiểu được điều đó sẽ thấy rằng, là một tất yếu, toàn bộ những công trình gần đây nhất của ông là những công trình trực diện suy tư về số phận dân tộc, về các vấn đề của xã hội hôm nay, về chủ quyền và sự tồn tại của người Việt và dân tộc Việt trong thế giới hiện đại. Với Trần Ngọc Vương, văn chương hay nghiên cứu nhất quyết không thể là một trò chơi trí tuệ dù cao quý mà phải là một hành động lãnh nhận trách nhiệm với xã hội, là tiếng nói phản biện của người trí thức. Văn chương với ông là cánh cửa để hiểu con người và dân tộc, làm văn chương cũng là một cách lãnh nhận trách nhiệm, là một hành động mà sự hiểm nguy của ngộ nhận luôn cận kề. Đó lại là sự tiếp nối của một truyền thống về  trách nhiệm của người trí thức, một truyền thống đã được hiện thực một cách hoàn hảo ở người thầy của ông, GS. Trần Đình Hượu.

Nhìn lại những chuyên luận của Trần Ngọc Vương, có thể thấy những bài viết nhiều tâm huyết nhất của ông, sâu sắc nhất và đẹp nhất của ông chính là những bài viết về Nguyễn Trãi và Phan Bội Châu. Đó nhất quyết không chỉ là một sự khám phá lạnh lùng, khách quan theo kiểu khoa học thực chứng mà là hiện thực của một khát vọng, một khát vọng khôn cùng về cái cao cả. Đó cũng chính là lí do khiến ông gần như không viết về văn chương đương đại, một thời đại thiếu vắng cái anh hùng. Trong sự ồn ào của đời sống hôm nay, những công trình ấy luôn là một nhắc nhở về một điều không thể thiếu, một điều “cần hơn trăm nghìn điều khác” (chữ dùng của Hoài Thanh), một điều mà thiếu vắng nó, đời sống này thiếu đi ý nghĩa: một niềm tin vào chân lí và ý nghĩa của chính bản thân cuộc sống.

 

GIÁO SƯ, TIẾN SĨ, NHÀ GIÁO ƯU TÚ TRẦN NGỌC VƯƠNG

  • Năm sinh: 1956.
  • Quê quán: Quảng Bình.
  • Tốt nghiệp đại học ngành Văn học tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1976.
  • Nhận bằng Tiến sĩ chuyên ngành Văn học Á-Phi tại Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga năm 1994.
  • Nhận chức danh Phó Giáo sư năm 2001.
  • Nhận chức danh Giáo sư năm 2013.
  • Nhận danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 2010.
  • Thời gian công tác tại trường: 1977 đến nay.
    • Đơn vị công tác:

Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Khoa Văn học, Trường ĐHKHXH&NV.

  • Chức vụ quản lý:

Chủ nhiệm Bộ môn Văn học Trung đại Việt Nam (1995 đến nay).

  • Các hướng nghiên cứu chính: Văn học Việt Nam, Văn hóa Việt Nam, Lịch sử tư tưởng Việt Nam; Trung Quốc học.
  • Các công trình khoa học tiêu biểu:
    1. Loại hình học tác giả văn học: Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam, NXB Giáo dục 1995, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 1999.
    2. Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung, NXB Giáo dục 1997, 1998, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 1999.
    3. Văn học Việt Nam thế kỷ X – XIX những vấn đề lý luận và lịch sử (viết chung, chủ biên), NXB Giáo dục 2007.
    4. Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ, NXB Tri thức 2010.
    5. Giáo trình Văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX (viết chung, chủ biên), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2010.
  • Các giải thưởng khoa học tiêu biểu:
    • Giải thưởng Công trình khoa học tiêu biểu của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2007 cho công trình Văn học Việt Nam thế kỷ X – XIX những vấn đề lý luận và lịch sử.

 

Tác giả: PGS. TS. Phạm Xuân Thạch

Theo: http://www.ussh.vnu.edu.vn/

 

Top