Kiểu tự sự trong bài thơ "Không nói" của Nguyễn Đình Thi

fShare
0

KHÔNG NÓI(*)

Dừng chân trong mưa bay

Liếp nhà ai ánh lửa

Yên lặng đứng trước nhau

Em em nhìn đi đâu

Em sao em không nói

Mưa rơi ướt mái đầu

Mỗi đứa một khăn gói

Ngày nào lần gặp sau

Ngập ngừng không dám hỏi

Chuyến này chắc lại lâu

Chiều mờ gió hút

Nào đồng chí - bắt tay

Em

Bóng nhỏ

Đường lầy.

18-2-1948

"Dừng chân trong mưa bay/Liếp nhà ai ánh lửa". Hai câu thơ "tiền trạm" vô nhân xưng này đã ngầm thông báo một "quãng đường" đã qua trong quá khứ. Giờ đây là hiện tại, điểm "dừng". Như thế là trước Không nói đã có một "bài thơ không nói" khác ngầm chảy; như chính dòng chảy bất tận của thời gian. Chọn thời điểm Không nói lúc chia tay, Nguyễn Đình Thi đã nói nhiều về tình yêu, và nếu không sợ quá khiên cưỡng, về cả Nghệ thuật thơ. Đến nay đã 55 năm. Bài thơ được chép lại nguyên văn hình thức thể hiện, (ba câu kết lùi vào, dấu chấm câu duy nhất ở cuối bài).

Toàn bộ bài thơ không hề có một chữ nào làm điệu hoặc dụng công đẽo gọt. "Nội dung" của bài thơ là một cuộc chia tay (vào buổi chiều, ở một nơi thôn dã nào đó qua các tín hiệu "ánh lửa", "chiều mờ", "đường lầy"). Nhưng, như nhiều bài thơ hay khác, ngay cả sự mộc mạc của nó vẫn mang tính thơ (poéticité) bởi chính những điều "không nói" ra ở dưới bình diện ngữ nghĩa.

Dừng chân trong mưa bay

Liếp nhà ai ánh lửa

Hai cảnh thơ liền kề, lắp ghép cạnh nhau và cái nhìn của chủ thể tự sự: do sự không liền mạch, logic của thông báo, nên đọc câu trước không đoán được câu sau.

(Sự liền mạch, logic của thông báo hay gặp ở thơ tuyên truyền, ví như: "Dựng xe khoá cổ khoá càng/Đi xe đảm bảo an toàn giao thông"; hoặc: "Đường tàu ta chạy đàng hoàng/Nam Quan, Hànội lại càng Lào Cai". Đó là văn xuôi trong hình hài thơ để cho dễ thuộc, dễ nhớ. Tác dụng đáng yêu về nhiều mặt của các loại "thơ" này là hoàn toàn không còn phải nghi ngờ).

Nếu liền mạch, logic kiểu văn xuôi như trên, hai câu thơ của Nguyễn Đình Thi có lẽ sẽ có chung "kiểu dáng", chẳng hạn: "Dừng chân trong mưa bay/Nào ta nghỉ lại đây": đây là tình trạng sức khoẻ sau hôn nhân. Nhưng thơ, nhất là thơ tình, lại không được quá logic, thông thường, "bình thản" như thế. Thơ càng đích thực thì bình diện ngữ nghĩa bên dưới văn bản càng phải lớn, độ vênh "lắp ghép" càng cao. Nếu không, nó phải dựa vào những yếu tố khác (vần, nhạc, nhịp, hình ảnh,...). Bản thân hai câu mở đầu đã báo hiệu sự cô đơn của tình yêu qua yếu tố không gian công cộng và riêng tư được nói một cách kín đáo: bên ngoài - "mưa bay"- chúng ta / bên trong - "ánh lửa"- người khác, mà đáng lẽ phải ngược lại. Sự đánh tráo chức năng của không gian đã ẩn ngầm tính triết lí cho số phận của tình yêu: "Hai người, nhưng chẳng hết bơ vơ" (Xuân Diệu).

Về thời gian, hai câu này đều nằm trên trục tuyến tính, "biên niên", trước sau một chút: "dừng lại" và thấy "ánh lửa". Nhưng ngay nội dung của câu sau đã tiềm tàng mâu thuẫn, vênh với câu trước về tính nhân quả: chủ thể phát ngôn về tình yêu không nhìn "em" mà hướng cái nhìn về phía "ánh lửa" của nhân xưng phiếm chỉ "nhà ai" nào đó, càng chỉ ra cái tâm trạng rối bời không thể diễn đạt thành lời. Nếu để ý, sự vắng mặt chủ ngữ của "Dừng chân..." đã tạo ra hệ quả giống như đang chìm vào suy nghĩ hơn là một lời kể thành lời. Sự đứt quãng của lời nói trong chuỗi thời gian liên tục đã khiến ngoại cảnh xen vào. Dĩ nhiên, vì thế mà có muôn vàn lời nói khác, đầy tâm sự dùng dắng đến lấp đầy hộ khoảng trống đó. (Điều này giải thích vì sao khi yêu người ta làm thơ hoặc, nhất là chép thơ tặng cho nhau: thơ đã nói hộ cái điều người ta khó nói. Thêm nữa, cũng "an toàn" hơn). Chính cái ý ngầm ẩn, đầy xôn xao giữa hai dòng thơ trên đã tạo ra một hiện tượng là ta không thể đọc lướt như một thông báo bình thường. Sang đoạn tiếp sau:

Yên lặng đứng trước nhau

Em em nhìn đi đâu

Em sao em không nói

Xuất hiện bốn lần chữ "em" trong có hai dòng thơ: nguyên tắc song song trùng lặp từ (điều tối kị trong văn xuôi) đã được vận dụng. Sự chồng chất các từ "em" ở đây đã làm dồn đống lại tâm trạng vốn khó nói lúc chia tay của hai người đang yêu nhau. Một điều nghịch lí của thơ là: vừa phải tiết kiệm tối đa từ ngữ (tức là không có nét dư thừa thì, là, mà, rằng,... và do đó không được kể lể); lại vừa có thể lặp âm vị (nguyên âm, phụ âm), từ, câu, cho đến cả bài. Thậm chí lặp cả từ và từ đồng nghĩa: "Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh,/Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần/Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm..." (Xuân Diệu).

Trở lại, cùng với sự vắng mặt chủ ngữ ở đoạn trên, từ "Yên lặng..." và những dạng nghi vấn không đánh dấu hỏi càng cho thấy hai câu sau chỉ còn là suy nghĩ, quan sát từ bên trong, ở đây cũng như suốt cả bài của người trong cuộc. Từ "không nói" ở dòng cuối đã cho biết "chủ nhân" của tên bài thơ. Sau này, Phạm Tiến Duật cũng thực hiện một thao tác tương tự: "Thôi em đừng bẻ đốt ngón tay/Nước mắt dễ lây mà rừng im lặng quá". Cử chỉ "bẻ đốt ngón tay" vặn xoắn, câm lặng, ẩn tàng sự vặn xoắn của tâm hồn con người lúc chia tay.

Mưa rơi ướt mái đầu

Mỗi đứa một khăn gói

Ngày nào lần gặp sau

Ngập ngừng không dám hỏi

Chuyến này chắc lại lâu

Có người cho câu thơ năm chữ thích hợp với hoài niệm, nhưng ở đây lại là thời gian hiện tại: "Mỗi đứa một khăn gói", của nả riêng để lên đường. Trước đó, thì hiện tại đã có "Hôm nay đi chùa Hương/Hoa cỏ mờ hơi sương", hay hoài cổ quá khứ qua sự lặp lại thời gian: "Mỗi năm hoa đào nở/Lại thấy ông đồ già". Còn sau này Xuân Quỳnh để ở thì tương lai: "Em sẽ kể anh nghe/Chuyện con thuyền và biển". Nguyễn Đình Thi cũng nghĩ đến tương lai: "Ngày nào lần gặp sau/Ngập ngừng không dám hỏi". Không cuống quýt như  Xuân Diệu, nhưng cái ám ảnh "rất sợ ngày mai" và "Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt" là có thực trong hai câu này như thơ tình nói chung dù được viết ở thì nào của thời gian. Đến: "Chuyến này chắc lại lâu" thì đã hoài niệm ngay cả trong hiện tại, bởi chữ "lại" mang chức năng xảy lặp (cũng như câu thơ của Vũ Đình Liên bên trên) gợi nhắc hành động lặp lại đều đặn, định kì. Đoạn cuối cùng, gập ghềnh, "loạng choạng" nhất: không khí hoài niệm (qua sự đều đặn 5 chữ của dòng thơ) đã bị hụt hẫng, bẻ gẫy, để trở về với "hiện thực" hoạt động:

Chiều mờ gió hút

Nào đồng chí - bắt tay

Em

Bóng nhỏ

Đường lầy.

Câu thơ được ngắt dòng tự do và văn nói: "Nào đồng chí - bắt tay" (đây là một đối thoại giả, đúng hơn là cử chỉ "hạ quyết tâm") cùng với ba dòng cuối cùng tạo hình, xa dần, nhiều trắc trở, gian khó đã tạo cho bài thơ Không nói sự chen chúc những tâm trạng. Trên bức tranh "Chiều mờ gió hút" là hình ảnh "Em" được bao phủ bởi "mưa bay", "gió hút"; nó còn được nhấn mạnh thêm, mờ dần bởi hình thức vắt dòng.

Thơ Nguyễn Đình Thi đã mang một hơi thở mới qua kiểu tự sự kiệm chữ, loại bỏ những tình cảm réo rắt kí sinh, "những luồng run rẩy" của trái tim nhà thơ trên bình diện ngữ nghĩa, nhất là bỏ kiểu "kể chuyện" tâm tình của Thơ Mới. Nguyễn Đình Thi đã nhập vào thi pháp chung của thời đại: Thơ Kháng chiến. Có thể, Không nói còn là "tuyên ngôn" cho một quan niệm về thơ của ông. Mặc dù thơ Kháng chiến đã "mộc mạc" hơn nhiều so với trước đó bởi hiện thực "văn xuôi" xung quanh, nhưng thơ Nguyễn Đình Thi vào thời gian này vẫn còn mang dấu vết "di truyền" về vần điệu (vần chân) của một thời Thơ Mới thịnh trị. Thơ hôm nay với những tiết tấu hối hả của nhịp sống hiện đại, chất văn xuôi ngổn ngang tràn ngập... khiến nó đã khác nhiều để đáp ứng với đòi hỏi của thời đại. Nhưng học tập quá khứ, ngay ở việc "không nói" nhiều trong thơ vẫn là điều cần thiết cho các nhà thơ.

*

Không nói là một bài thơ về thơ, về tình yêu; mà tình yêu bao giờ cũng buồn và cô đơn. Trong đời, có hai loại số phận trái ngược nhau: ông thợ cắt tóc và tình yêu. Ông thợ cắt tóc phải nhờ cộng đồng bạn nghề sửa giúp chính cái đầu của mình; còn tình yêu không thể nương nhờ cộng đồng trên tinh thần "lá lành đùm lá rách" được. Nó phải tự xoay xoả lấy. Cùng với buồn, cô đơn, là đau khổ: không được yêu cũng khổ; lấy phải vợ đẹp cũng chẳng sung sướng gì.

Song Tình yêu, Thơ về tình yêu vẫn mãi sinh tồn, bất tử.

Hànội, tháng 10 năm 2003

Nguồn:  Văn Nghệ số Tết, số 3+4+5 (07-31 - 1 -2004)



(*) Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, (Thơ), Nxb. Văn học, 1983.

fShare
0
Top