Thi pháp của sự thành thực

THI PHÁP CỦA SỰ THÀNH THỰC

Nguyễn Hùng Vĩ

Khoảng trước sau năm 1970, khắp vùng Nghệ An hồi đó lan truyền câu hò:

     Khen cho thằng Mĩ đã tài

     Vác bom đến xán bể hòn đá mài ông hoe Ba.

Tiếng Nghệ Tĩnh, “xán” là “ném”, “hoe” là tiếng người ta gọi ông bố bà mẹ nào sinh con gái đầu lòng, còn sinh con trai đầu thì gọi là “cu”: anh hoe, ông hoe, anh cu, ông cu, “bể” là vỡ.

Thì ai muốn gọi hai câu đó là hò vè hay thơ ca gì gì cũng được nhưng không thể phủ nhận sức lan truyền của nó, lại càng không thể phủ nhận cái hay, chất thơ của nó.

Vào năm 1971, nhà thơ Quang Huy, nhà văn Bá Dũng, nhà thơ Minh Huệ khi trao đổi “kinh nghiệm sáng tác” cho chúng tôi đều thích rất hứng thú lấy ví dụ 2 câu này làm minh chứng cho trí tuệ thơ ca dân gian.

Sau này, chúng tôi được học tương đối tử tế môn ngôn ngữ thơ từ GS Nguyễn Phan Cảnh, được đọc các giáo trình trường phái Praha với những Jacobson, trao đổi trực tiếp với nhiều nhà nghiên cứu thơ ca trong và ngoài nước, chiêm nghiệm từ Kinh Thi đến các phong cách sáng tác hiện đại, một câu hỏi luôn luôn hiện ra: Biết bao nhiêu bài thơ thời chống Mĩ đó, biết bao nhiêu câu hò dọc sông Hoàng Mai, sông Cấm, sông Lam… có mấy câu có hạnh phúc được truyền tụng, dẫu chỉ một thời, như 2 câu trên? Nó có phải là “thơ” không? Chất thơ nó nằm chỗ nào? Nếu nó là thơ thì quy chiếu cái lí luận mình học được vào chỗ nào đây để giải thích nó? (Nhất là khi có người đột nhiên hỏi: Nó hay ở chỗ nào nhỉ?).

Đọc đi đọc lại thì thấy có lẽ nó có những cái “phẩm” thơ ca mà không phải cứ tác phẩm hai câu nào cũng có được.

a, Trước hết, ta thấy đây là cái “thực” của tư cách người phát ngôn. Bom đạn, máy bay thì ai chả sợ. Sơ tán, chui hầm, ngủ bờ ngủ bụi là sợ, là bảo toàn lấy cái sinh mạng của mình. Tuy nhiên sợ mãi rồi nó cũng quen dần đi, lì dần đi. Nhiều khi trẻ con thấy máy bay bay qua đầu, còn roe ngón trỏ ngón giữa, kẹp ngó cái vào giữa, giơ lên trời mà chửi, mà thách: “Xương cha thằng máy bay!”. Mẹ đứng sau lúc nào, phét cho một cái vào mông, liền nhảy đại xuống hầm. Cái ông hò kia cũng thế. Ông có một tư cách kẻ trên để mà “khen” thằng Mĩ. Ông không sợ nó. Ông này cũng giống nghư Nguyễn Du đứng ở một tư cách cao hơn cả chân lí muôn đời “tài mệnh tương đố” để hạ một chữ “khéo” trong câu thơ mở đầu Truyện Kiều “Chữ tài chữ mệnh KHÉO là ghét/cợt nhau”. Nhưng nếu như Nguyễn Du nhờ chữ “khéo” mà trở thành người phán xét chân lí thì tác giả hai câu hò trên đứng ở tư cách cao hơn, tư cách kẻ cả: “Khen cho”. Chữ “cho” trong thăm thẳm sâu xa vốn là động từ “chu” trong cổ Hán ngữ, nó dùng để chỉ việc người trên ban xuống kẻ dưới một thí vật nào đó (chúng ta còn lưu trong từ Hán Việt hai chữ chu cấp). Bởi vậy tư thế người cho, người khen cho luôn luôn là tư thế cao hơn. Không cần diễn giải là “đứng trên đầu thù”, “đạp lên đầu thù” chi cả, chỉ 2 chữ “khen cho” thôi, ta thấy được cả cái tư thế cao cả đó.

b, Cái thực thứ hai là cái thực của ngôn từ, của lối nói. Tiếng Nghệ, cái chữ “ĐÔ phát âm rất trầm và hơi kéo dài, như là tương đương với ĐẠẠ. Các bản cũ truyện Kiều, người ta chép chữ Nôm câu thơ “Những điều trông thấy Đà đau đớn lòng” nếu mà đọc theo tiếng Nghệ Tĩnh “đạạ” thì nó đứt ruột lắm, trực cảm lắm, thấm thía lắm. Khi tiếng Việt Bắc Bộ phát âm rõ chữ “đã” nên không ngấm hết Kiều, các cụ chuyển nó ra “MÀ”, dầu âm có trầm nhưng kém hay đi. Hai chữ Đà TÀI của câu hò trên, vốn nó đã ngầm một ẩn ý coi thường. Người Nghệ khen ai đó tài thì nói “Tài thật!”, nhưng nếu khen mà nói”Đạạ tài” thì muốn nói là cũng thường thôi, lắm người cũng đã làm được. Còn như nói “Đạạ tài hệ!”, thì coi như là chê vậy. Tác giả khen thằng Mĩ mà hạ hại tiếng “đã tài” thì đó là một tâm trạng coi thường rồi. Ở khác chữ khác ta mới thấy cái tài trong cái thực của tác giả. VÁC là hành động thường nhật của nông dân, XÁN là từ địa phương nôm na. Họ không phải không có từ “bỏ bom”, “ném bom”, “cắt bom”, “đánh bom”… Có quê mấy thì ai cũng biết. Nhưng tác giả dùng chữ “xán” như là chuyện vặt vậy, như trẻ con lấy đất quăng nhau ngoài bãi thôi. Kĩ thuật cao siêu của không lực Hoa Kì cuối cùng cũng là “vác” và “xán” mà thôi, chuyện thường không đáng kể.

c,Thứ ba, thật bất ngờ, kết quả của một đợt không kích, oanh tạc rất “tài” đó là “hòn đá mài nhà hoe Ba” bị “bể”. Cái chi tiết này nó nằm chông chênh giữa “thực” và “bịa”. Thực là vì cái chuyện cháy nhà mà vớ mỗi cái chổi cùn chạy ra là chuyện rất thật, cái chuyện mất bò, lên núi tìm rồi về khoe: “May nó để lại cho cái thủ với bộ lòng” là thực. Đá mài thì nhà nào chả có bên bể cạn hoặc góc thềm. Ấy thế mà bom nó đánh vỡ đi vẫn đứng mà tiếc ngẩn tiếc ngơ. Nhà nó xô oẹp là sự đã rồi, thế nào chả dựng lại. Nhưng tiếc hòn đá mài thì vẫn cứ là tiếc chứ. Rất thực. Nhưng cũng gần như là “bịa” vì nó hãn hữu, vì nó tức cười. Ai lại bom rơi đạn nổ, tưởng to tát gì, té ra chỉ đổi được hòn đá mài mà thôi. Tiếng cười đã giúp ta vượt qua sợ hãi, vượt qua đau thương để mà tồn tại, mà chiến đấu. Cái hài luôn luôn là vũ khí của những trí tuệ đứng cao hơn hiện thực để phát hiện và phán xét. Như đùa như thực là hoa nở trên đường đời gian truân.

Hai câu hò trên không hề là đùa tếu cho dù đúng là thực sự nôm  na. Nó năm trong không khí thực của một thời chiến tranh và được những tâm hồn thực của thời đó tiếp nhận, đồng cảm, yêu thích.

d, Thơ ca thì phong phú muôn vàn, mỗi người tâm đắc mỗi loại. Chúng ta đã gặp những “phật thi”, “thánh thi”, “tiên thi”, “quỉ thi” làm mẫu mực muôn đời cho sáng tạo thơ ca. Nhưng để đạt đến cái đẳng kinh điển đó, tất cả họ đều phải nằm trên nền tảng của sự thành thực. Thành thực mới là “chính thi”. Thơ nôm Nguyễn Trãi, thơ chữ Hán Nguyễn Du cao cấp biết bao nhiêu nhưng cũng thành thực biết bao nhiêu. Thơ nôm Lê Thánh tôn và hội Tao đàn, thơ nôm các chúa Trịnh có nhiều lấp láy lấp lánh hơn hẳn nhưng sự thành thực thì ít lắm. Đọc không ngấm được bao nhiêu.

Đã đành thành thực chưa phải là thơ. Nhưng thơ trước hết phải thành thực cái đã. Đọc nhiều thơ hiện đại hôm nay, sao mà thấy ít sự thành tâm. Nhạc, họa, âm, từ, ý, tứ… mỗi thứ cứ quá lên một tí. Tích hợp lại thành nhiều tí nên đọc bài thơ cứ lấp lánh như giấy trang kim của mấy chú khách làm đồ hoa man vậy. Ta phục tài được một lúc nhưng nó chẳng khiến ta ngẫm ngợi rồi cùng vui buồn, sẻ chia. Hình như thơ ấy, người thông minh đa tài có thể nghĩ ra được nhưng với mọi người thì khó mà cùng nếm trải được. Thành thực mà vụng về thì có thể tu luyện. Nhưng không có thành thực thì mãi mãi không có thơ ca hay, thơ ca đúng nghĩa. Tôi nói thi pháp của sự thành thực là nói ở phía ấy vậy.


Hà Nội 16/6/2013

Top