Nguyễn Hùng Vĩ - Một ngày và bảy mươi vạn ngày

MỘT NGÀY VÀ BẢY MƯƠI VẠN NGÀY

Nguyễn Hùng Vĩ

Một ngày thật vui cho chúng tôi, những con người bé nhỏ trong lòng xã hội này. Câu chuyện là như sau:

Hơn 20 giờ ngày 24 tháng 10 năm 2013, anh Nguyễn Đức Dũng, công tác tại Cục di sản Bộ Văn hóa gọi điện cho tôi: “Ngày mai mời cụ đi khám cái bia thế kỉ III mới được dập về. Sang trại Bái Mai nhé”. Tôi hỏi: “Đùa đấy à? Chắc chưa? Một nghìn bảy trăm năm đấy nhé. Phải cẩn thận”. “Bước đầu xác định thế đã, khám kĩ sau!”.

Tôi gọi ngay cho TS Trần Trọng Dương (hiện công tác tại Viện nghiên cứu Hán – Nôm). Anh Dương trả lời: “Em được báo rồi thầy ạ! Thầy chọn ngày đi, ta sang trại”. Tôi gạn hỏi: “Có chắc không nhỉ? Kinh quá!”. Dương nói lại: “Em được gửi bản ảnh rồi, không thể nghi ngờ, thư pháp hoàn toàn đời Tấn!”. Chúng tôi chọn trọn ngày thứ Bảy cho xông xênh. Sướng quá. Là những người làm việc lâu năm trong nhóm, tôi hoàn toàn tin cậy họ. Tôi bấm máy san sẻ thông tin cho GS.TS Vũ Đức Nghiệu, bạn tôi, là nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, lại nhắn cho TS Phạm Lê Huy, khoa Đông phương học, là người tôi yêu quý và trân trọng. Có khi, niềm vui muốn chia sẻ nhưng chẳng chia sẻ được mấy người. Cái nghề của chúng tôi tìm tri âm thật khó. Cả hai người tin tưởng nhắn lại chúc mừng chúng tôi.

Hôm nay, thứ Bảy, ngày 26-10-2013, chúng tôi đã có một ngày thật sự vui vẻ. Anh Trần Trọng Dương hẹn tôi bên kia cầu Long Biên lúc chín giờ. Tôi phi xe sang thì anh đã đứng chờ. Gọi điện cho anh Nguyễn Đức Dũng thì anh đã đến “trại”. Chúng tôi chạy xe về phường Ngọc Thụy, vốn là một làng nằm ngả ba sông Hồng và sông Đuống. Làng xưa nay thành phường phố, lâu ngày quay lại, ngoắt ngoéo đến phát nản. Cái từ “trại” là nói cho vui chứ đó là căn nhà thuê nho nhỏ, nơi anh em có thể rượu chè bù khú với nhau. Đầu tiên, cách đây 8 năm, là trại họa sĩ Lê Quốc Việt nằm sát sông. Khi đó, một số đại gia bên thành phố sang mua vườn lập trại nên căn nhà anh Việt trông dùm người khác cũng được gọi là trại cho oai. Chính nơi đây là chỗ tập hợp, sáng tác, dịch thuật của nhóm thư pháp Tiền vệ nổi tiếng một thời. Bây giờ, chỗ thuê của anh Nguyễn Hữu Sử (tự hiệu Bái Mai) và anh Nguyễn Tiến Hạnh cũng được gọi là trại.

Chúng tôi đến nơi thì các anh tài  đã có mặt: Nguyễn Đức Dũng, Nguyễn Đạt Thức (Cục di sản). Thế là 6 người, vừa khéo một mâm. Hai mặt thác bản đã được đính lên tường phẳng phiu. Nhìn vào, tôi hỏi: “Ai dập mà ngon vậy”. Anh Sử nói: “Thầy xem đây”. Liền mở máy tính, tôi nhận ra Nguyễn Phạm Bằng, sinh viên Hán-Nôm cũ, nay công tác ở Bảo tàng Bắc Ninh. Và người thứ hai là Đào Xuân Ngọc, một chiến tướng dập bia công tác tại Viện khảo cổ, đang tiếp tục nghiên cứu tại hiện trường chùa Dạm. Bia nằm trong miếu thờ Đào Hoàng, thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương, bị hư hại nhiều qua thời gian nên phải dùng phương pháp dập đấm từng tí một. Lục cục phải đến năm ngày mới được những bản dập ưng ý. Thế là yên tâm. Những gì có thể hiện lên bản dập thì đã rõ, đọc dễ hơn cả trên bia gốc. Chúng tôi đang chiêm ngưỡng những con chữ được khắc cách nay 1700 năm hơn. TẤN(?) CỐ SỨ TRÌ TIẾT QUÁN QUÂN TƯỚNG [QUÂN] GIAO CHÂU MỤC ĐÀO LIỆT HẦU BI (Chữ TẤN chỉ còn bộ VIẾT phía dưới, chữ QUÂN trong ngoặc đứng mất hẳn, đọc theo vị trí chữ và chức phong của nhà Tấn cho Đào Hoàng trongTấn thư). Một tâm cảm cung kính lan tỏa. Anh Sử, anh Hạnh đã đọc nó hai ngày nay. Những người khác đến là bàn nhau về những chữ mất nét, những chữ nhòe mờ và cả những chữ đã mất mà suy luận ra được. Trước đời Đường cả hơn ba trăm năm cơ mà, lúc đó với cùng một tự dạng, người ta đọc thế nào đây? Đã nhòe mờ còn can tội dị tự.

Những ý kiến tranh luận, cãi cọ, chọc nhau rồi “À” “Òa”, nhảy dựng lên cả, vỗ đùi, khen nhau và tự khen. Rồi hàng ngàn cổ tự trên bia đời Tấn ở Trung Hoa được đem ra so sánh. “Nó đây rồi! Chính thằng này đọc âm thế này đây. Đúng chưa nào, cãi nữa đi! Đọc TẬP mà, QUYÊN thế nào được”. Tất cả cười sung sướng để lại lao vào chữ khác. Có người lẩm bẩm: “Thương cho các cụ xưa lặn lội thẩm định, lấy đâu ra nhiều tư liệu đối chứng như thời đại công nghệ bây giờ. Thậm chí muốn tư vấn của các chuyên gia giỏi nhất thế giới, có khi cũng chỉ cần vài lần nhấp máy là xong”. Tôi đứng nhìn và thầm phục anh em. Trí não cứ tóe lóe phát sáng. Không hiểu từ đâu ra những phút giây đốn ngộ như ánh chớp đó. Có những chữ phải nhìn qua nhiều bản ảnh với góc độ, ánh sáng, kích cỡ khác nhau mới tạm thống nhất được. Năm mái đầu chụm lại nhìn nhận phân tích. Thỉnh thoảng lại nhắc: “Giá có cụ Hiếu nhỉ. Gọi cho Quang Đức cái. Gọi ngay cho Huy sang…”. Cụ Hiếu là Đinh Thanh Hiếu, khoa Văn học; Quang Đức làm ở Viện Văn, Phạm Lê Huy khoa Đông phương đều là những “con nghiện” trong lĩnh vực cổ Hán tự. Là người không thạo chữ Hán, tôi làm cái công việc là lấy máy ảnh ghi lại những phút giây không dễ có đó. Gần trưa, mặt sau bia, vốn nhiều chữ còn đọc được và được cháu con sau khoảng 150 năm khắc, đã tạm ổn. Bất ngờ, anh Hạnh có điện thoại. Nghe anh nói chuyện, tôi nói: “Mày nói tiếng Nga sõi thế?” Anh huơ huơ tay trao đổi tiếp. Dũng nói: “Thông thạo khoảng 14 ngoại ngữ đấy thầy ơi!”. Tôi xanh cả mắt. Xong việc, Hạnh nói: “Nó nói phét đấy! khoảng bảy tám cái gì đó thôi”. Ghê thật. Hạnh đang làm công tác quan hệ quốc tế tại Viên y học dân tộc, là cháu ngoại nhà dân tộc học Lã Văn Lô.

Buổi trưa, rủ nhau đi nhậu nhẹt  ăn mừng hai tiếng đồng hồ cật lực và tạm yên tâm với mặt sau. Chữ nghĩa theo vào cả câu chuyện trên bàn ăn. Cứ bảo nhau không nói chuyên môn nơi nghỉ ngơi nhưng rồi lại rôm rả chữ nghĩa.

Buổi chiều,tôi say quá, mắt nhắm mắt mở theo dõi công việc. Những gì xong được cũng đã xong. Mọi người nhất trí phân công nhau viết từng mảng một và hối thúc Bằng và Ngọc công bố trước và nhanh cho thiên hạ biết, anh em sẽ đến thực địa nghiên cứu và bổ sung sau. Nhưng chắc chắn đây là tấm bia chữ Hán có niên đại sớm nhất Việt Nam, ngay đầu thế kỉ IV, rất có thể vào năm 305, được phát hiện trên đất Bắc Ninh văn hiến. Thế kỉ XVIII, XIX, XX đã phát hiện tấm bia cổ nhất làĐại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng bi vănlàm năm 618 trên đất Thanh Hóa. Năm ngoái của thế kỉ XXI này, phát hiện tấm bia có niên hiệuĐại Tùy Nhân Thọ nguyên niênlàm năm 601 cũng trên vùng Luy Lâu xưa, và bây giờ là tấm bia này, niên hiệuKiến Hưng nhị niên, xưa hơn cả ba thế kỉ.

Một ngày trôi qua trong không khí mát mẻ mùa Thu, chúng tôi chia tay nhau trong quyến luyến. Giá mà ngày nào cũng đầy những thú vị như thế này cho những người đam mê với truyền thống văn hóa dân tộc.

Hà Nội, 26-10-2013.

Top