Nguyễn Hùng Vĩ - Bài hát quan họ cổ Phùng quan tế hội và...

fShare
1

Bài hát quan họ cổ Phùng quan tế hội

và ý nghĩa của nó

Nguyễn Hùng Vĩ

Trong quá trình tìm hiểu kho tàng dân ca quan họ Bắc Ninh, chúng tôi gặp nhiều ca từ khó hiểu, trong đó bài Phùng quan tế hội hát toàn bằng âm Hán Việt được các nghệ sĩ, ca sĩ, liền anh liền chị hỏi nhiều nhất. Chúng tôi có quan niệm là tôn trọng các dị bản mà nghệ nhân hát, đồng thời khi yêu cầu được giải thích ý nghĩa thì cũng cố gắng tìm hiểu để giải thích trong chừng mực có thể nhất.

Bài Phùng quan tế hội được nghệ nhân – nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Đức Sôi dạy lại cho lớp diễn viên khóa I Đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh vào đầu những năm 1970 thế kỉ trước. Theo những người trực tiếp học từ cụ như nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Lệ Ngải (con gái), nghệ sĩ Nguyễn Minh Phức và nghệ sĩ Vũ Tự Lẫm (cháu họ) thì cụ Sôi cho biết bài này thuộc giọng tuồng, từ tuồng được quan họ tiếp thu với những biến tấu nhất định hợp với âm nhạc quan họ. Bác Vũ Tự Lẫm đã một lần cất công tìm gặp một nghệ nhân tuồng ghi lại lời bài hát nhưng hiện chưa tìm thấy bản ghi.

Đã hơn 40 năm nay, bài hát được lưu truyền thế hệ này đến thế hệ khác và là bài dạy cho sinh viên các hệ trung cấp và cao đẳng dân nhạc. Theo trí nhớ truyền ngôn của các thế hệ, bài Phùng quan tế hội có phần lời như sau:

Bản ghi:

Phùng quan tế hội đối i I lâm I ì í ly mã giao truyền là phận tương liền là vô phận tương lai phúc í đáo truyền vô nhị đáo lai ì vô nhị đáo í ì í lai.

Đáo nhất lại sở hữu xuân i ì í khai lương xuất cống cống hồ chi lưu thủy hà vô nhân í I vô nhị í ì đằng vân i vô liệu thúy í ì i quân.

Tiến i lực phân i ì thập phân đồng tâm ngã chi như điểu thường phi hoàng thiên nhất sắc í hề như Châu Sương chi lão i i Bành cộng thúy vân i vô nhị í ì đằng vân i vô liệu thúy i ì í quân.

(Theo bản ghi trong cuốn 200 bài quan họ đối đáp – Người hát: Nguyễn Minh Phức. Người dạy: Nguyễn Đức Sôi – Trung tâm văn hóa tỉnh Bắc Ninh – 2009).

Việc tái lập một lời văn trong ca hát dân gian nhiều khi khá khó vì dị bản qua quá trình truyền miệng với rất nhiều lí do khác nhau (không chỉ là sai do trại bẹ). Ở đây lại là hát âm Hán Việt nên càng khó hơn khi lưu truyền từ tuồng sang quan họ rồi sống trong đời sống truyền miệng. Trong bản ghi trên, những chữ in đứng mập là những chữ theo chúng tôi cần chỉnh lí lại. Chúng tôi mạnh dạn đề xuất phương án tái lập lời văn khả dĩ chấp nhận để hiểu nội dung lời ca.

Bản tái lập lời văn:

1.Phùng quân tế hội đối lâm ly. 2.Mã giao truyền. 3.Phận tương liên, vô phận tương ly. 4.Phúc đáo truyền vô nhị đáo lai. 5.Đáo nhất lai sở hựu xuân khai. 6.Lưu xuất cống cống hồ chi lưu xế. 7.Hà vô nhất vô nhị đằng vân. 8.Vô liệu thủy quân. 9.Tiến lực thập phân. 10.Đồng tâm ngã như điểu thường phi. 11.Hoàng thiên nhất sắc hề. 12.Như Châu Dương chi Bành Lễ.13. Cộng thủy vân.. 14.Vô nhị đằng vân, vô liệu thủy quân.

Dịch nghĩa:

1. Gặp người trong hội này, lời đối lời rất là thắm thiết.

2. Rằng như kết giao khi ngồi trên lưng ngựa vậy.

3. Có duyên phận thì tương liên với nhau, không có duyên phận thì lại chia tay nhau.

4. Rằng như phúc đến một lần không đến lại lần thứ hai.

5. Đến một lần như xuân khai một lần mà thôi.

6. Lưu xuất cống cống hồ chi lưu xế.

7. Một hai làm sao mà cưỡi mây theo được

8. Mà cũng không làm thuyền theo người được.

9. Mười phần người gắng sức ra đi

10.Tấm lòng đồng tâm của chúng ta như chim kia cùng bay theo nhau.

11. Trời xanh một sắc

12. Đây phố Châu Dương, kia bến Bành Lễ.

13. Cùng nước mây (một sắc liền trời)

14. Không cưỡi mây được, không lo thuyền được.

Giải thích:

Câu một các cụ hát là Phùng quan tế hội, chúng tôi cho rằng chữ quân thì đúng hơn vì quânngười kiểu tôn xưng. Trung Quốc xưa, các vương tôn, các mạnh thường quân thường tổ chức các hội lớn quy tập anh hùng kẻ sĩ đến gặp gỡ giao lưu, ca xướng và sáng tác. Gặp nhau rồi chia tay trong các cuộc gặp đó là đề tài du hành- hội kiến-lâm biệt thường gặp trong thơ phú xưa. Ba chữ đối lâm ly có thể hiểu các ý như: đối ca, đối diện, đối tâm, đối ẩm, đối thoại... nhưng cũng có thể là mặt đối mặt thắm thiết. Chúng tôi chọn một ý để dịch. Câu 2 có ba chữ Mã giao truyền còn phân vân. Truyền là kể rằng, chúng tôi dịch là rằng như là ổn. Nhưng mã giao có thể là kết bạn trên lưng ngựa, chỉ việc làm quen nhau chóng vánh trong điều kiện không thuận lợi, mỗi người một đường. Cũng có thể mã giao là một ngữ liệu cổ điển nào đó chăng. Các cụ hát chữ lai câu này chắc là sai vì ý văn không thông, đổi sang ly mới trọn ý. Câu 6 các cụ hát Lương xuất cống ,và ,chi lưu thủy. Chúng tôi cho rằng đây là một đoạn nhạc lưu không trong ca hát ngày xưa được hát lên bằng lời bằng các âm dùng để kí âm cổ như lưu, cống, hồ, xế, xàng, xư… Trong quá trình hát, lưu đã trại thành lương và chữ xế cuối được chủ động hát thành thủy cho có tí nghĩa, vả lại, lưu thủy cũng là một làn điệu xưa phổ biến trong ca hát. Câu 7 các cụ hát vô nhân vô nhị, chúng tôi cho là chữ nhân bị trại đi cho mềm khi hát. nhất vô nhị thì trọn nghĩa hơn. Từ câu 10 cho đến câu 13, về ý, rất gần với ý của một đoạn trong bài Đằng vương các tự của Vương Bột đời Đường:

Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cộng trường thiên nhất sắc. Ngư chu xướng vãn, hưởng cùng Bành L chi tân. Nhạn trận kinh hàn, thanh đoạn Hành Dương chi phố (Ráng mây cùng chiếc cò cùng bay trong nước mùa thu cùng trời cao một sắc. Lão ngư hát giữa chiều, vang tận bến Bành Lễ, Hàng nhạn bay tránh rét, tiếng kêu đứt phố Hành Dương).

Vì Châu Sương và Lão Bành không có mối liên hệ gì cho nên câu hát không thông ý được. Chúng tôi cho rằng, trong quá trình truyền miệng, dương đã biến thành sương. Hành Dương phố là phố ở Châu Dương vậy.

Đây là những ý kiến tái lập lời văn Hán Việt của chúng tôi. Chúng tôi coi như là một khả năng có thể làm thông ý nghĩa bài hát. Chuyện này nhiều khi còn khó cả với tiếng Việt cho nên rất cần những ý kiến trao đổi khác để có thể rõ thêm. Cuối cùng là, khi nghe hát, chúng tôi luôn luôn tôn trọng các dị bản mà người hát trình diễn. Giải nghĩa là để hiểu rõ hơn phần lời, sửa hay không là quyền của các nghệ nhân.

Hà Nội 5-11-2013.

fShare
1
Top