Tản Viên sơn như là biểu tượng văn hoá

fShare
0

TẢN VIÊN SƠN NHƯ LÀ MỘT BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA.

 

Nguyễn Hùng Vĩ

 1. “Nhất cao là núi Ba Vì”. Trong kho tàng ca dao dân ca người Việt sưu tầm cho đến nay, có 11 bài mở đầu bằng “Nhất cao”, trong đó Ba Vì – Tản Viên chiếm tới 7 bài. Một con số ấn tượng. Dẫu là sưu tầm thì không thể là đầy đủ tuyệt đối và hai chữ “nhất cao” cũng là một so sánh tương đối, có thể trong một vùng miền cụ thể. Nhưng với núi Ba Vì, “nhất cao” nằm trong tương quan dân tộc, tương quan quốc gia, tương quan lịch sử. Tâm thức cộng đồng, với trải nghiệm trường tồn, đã liên tục dựng xây và khẳng định nó như một biểu tượng quan trọng bậc nhất của lịch sử.

 Nếu tính bằng chiều cao địa hình, đỉnh Ba Vì cao 1. 296m, thấp hơn cả núi Tam Đảo đối diện (1. 581m). Với công nghiệp khai thác than hiện đại, người ta có thể tạo nên những bãi thải phế liệu thành núi non chất ngất, cao hơn cả núi Ba Vì trong tương lai rất gần. Và cái núi bãi thải đó cũng có thông điệp riêng của mình: Con người, vì tiện nghi cuộc sống, đủ sức mạnh gặm tan nát cả thiên nhiên. Nhưng cái mà những núi non nhân tạo đó sẽ không bao giờ có được, đó là một biểu tượng cao quí và thiêng liêng trong toàn bộ cộng đồng.

 Thế kỉ XV, trên đỉnh cao của sự phát triển quốc gia Đại Việt, trong tinh thần dân tộc mạnh mẽ nhất, Nguyễn Trãi, nhà văn hóa thế giới, bằng nhãn quan lịch sử sâu sắc của mình, trong tác phẩm địa lí – lịch sử Dư địa chí, đã khẳng quyết: “Tản Viên là tên núi, núi có ba ngọn cao chót vót, hình như cái tán vì thế mới gọi là Tản Viên. Núi ấy là núi tổ của nước ta đó”. Lời khẳng quyết này là một trong rất nhiều định đề, như những chân lí, về văn hóa mà Nguyễn Trãi anh minh đã để lại cho chúng ta. Tính biểu tượng của Ba Vì được khẳng định ở tầm độ trí tuệ cao nhất, ở tình cảm ái quốc sâu đậm nhất.

 Vic to Huy gô, đại văn hào thế giới từng nói: “Tầm vóc của một nền văn minh được đo bằng số lượng các hình tượng” (mà nền văn minh đó đã tạo nên).

 Biểu tượng văn hóa của một nền văn minh cũng có một giá trị tương tự.

Và chúng ta, nhân dân ta đã xây dựng được trong tiến trình lịch sử một biểu tượng trọng đại: Núi Ba Vì. Cũng như Olempia của Hi Lạp, Thái Sơn, Ngũ Nhạc của Trung Hoa, Đại Phú Sĩ Sơn của Nhật Bản…, mỗi nền văn minh có những biểu tượng NÚI thiêng như là thương hiệu lịch sử, thương hiệu văn hóa của chính mình.

 2. Trong trường kì lịch sử, vào những thời kì xa xưa nhất, chúng ta khó lòng biết được người Việt cổ đã xây dựng biểu tượng núi Ba Vì như thế nào, nhưng với những nghiên cứu khảo cổ học, lòng đất Ba Vì cho ta những cứ liệu, những hiện vật, những di chỉ văn hóa thuộc thời đại đá cũ, thuộc sơ kì đồng thau, thuộc văn hóa khảo cổ học Đông Sơn phân bố rộng rãi trên vùng đất này. Điều có thể khẳng định là từ 2 vạn năm trước đã có con người chiếm cư ở đây, từ 4000 năm trước, người Việt cổ đã định cư, từ 2700 năm trước, tính chất bộ lạc đã phát lộ ở cư dân xứ Đoài này, góp phần cơ bản tạo nên quốc gia Văn Lang trong huyền sử.

 Hình ảnh núi Ba Vì thời đó được hình dung như thế nào, chúng ta chưa tìm được tư liệu khả tín. Nhưng với kinh nghiệm nghiên cứu biểu tượng của khoa thần thoại học, chắc chắn những tín ngưỡng về NÚI đã tạo nên những vị thần linh thiêng cho bất cứ cư dân nào. Địa bàn này không thể là ngoại lệ. Nó có thể là thần linh cho các cộng đồng cư dân chung quanh hệ thống núi này, được họ tín ngưỡng, hành lễ trong tâm cảm thành kính, thậm chí vừa biết ơn, vừa sợ hãi.

 Vào đầu kỉ nguyên, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (39 – 42 SCN) mà trung tâm là Mê Linh, địa bàn nằm giữa Tam Đảo và Ba Vì, và không gian chính vẫn là các bộ lạc chung quanh vùng thềm trước của Ba Vì với Hát Giang lịch sử. Sự kết hợp với bộ Chu Diên cho chúng ta thấy quá trình liên minh bộ lạc đã là một thực tế sinh động để chống lại sự xâm lăng của phương bắc, lúc đó đã phát triển quốc gia phong kiến mạnh mẽ. Cổ sử nói đên con số 65 “thành” cùng hưởng ứng để đứng lên giải phóng đất nước. Nếu hiểu “thành” là một không gian cư trú ổn định cổ xưa có sự bảo vệ của các điều kiện hào lũy tự nhiên thì ta có thể hiểu nó tương tự với “chiềng” của người Thái, “mường” của người Mường hay “viềng” của người Kinh, đó là các bộ lạc lớn, các làng lớn, trung tâm của từng vùng: đó là những bộ lạc cổ xưa.

 Cũng chưa có tài liệu chắc chắn để ta nói về việc xây dựng biểu tượng Ba Vì trong thời gian này, nhưng việc vùng này trở thành trung tâm của cuộc khởi nghĩa thì chắc chắn việc hướng về Ba Vì của các vùng khác chắc chắn là có thực. Bản đồ các di tích thờ tự Hai Bà ở vùng lõi chắc chắn có mật độ cao hơn. Tâm lí ngưỡng vọng hướng về Hai Bà cũng là hướng về những đỉnh cao vòi vọi của Ba Vì.

 Giữa thiên niên kỉ thứ nhất, hào trưởng Lý Bí nổi lên chống ách đô hộ nhà Lương giành thắng lợi và nhà nước Vạn Xuân ra đời (542 – 602). Nước Vạn Xuân khẳng định xu hướng chắc chắn việc xây dựng một quốc gia phong kiến độc lập ở lưu vực sông Hồng, phân biệt với Trung Hoa phía bắc và Lâm Ấp ở phía nam.

 Lý Nam Đế giải phóng trị sở Long Biên (Thuận Thành, Bắc Ninh), xây Tô Lịch giang thành ở cửa sông Tô. Ý thức quốc gia đã rõ ràng và rộng mở. Lúc này Ba Vì bắt đầu được ý thức như là núi tổ hướng chính tây đổ bóng xuống trung nguyên. Là người đã từng làm quan cho trị sở Giao Châu, được sử kí cho là văn võ song toàn, chắc chắn Lý Nam Đế có nhiều tri thức về địa lí. Thiên văn và địa lí là tri thức không thể thiếu của người đứng đầu quốc gia.

 Chúng tôi cho rằng, với ý thức độc lập dân tộc được xác định, núi tổ Ba Vì chắc chắn sẽ mang tính biểu tượng cho sự vững vàng của vận nước của nhà nước Vạn Xuân. Và cũng từ đây, bắt đầu cho một xu hướng nhìn nhận vùng Tô Lịch như là một trung tâm của toàn bộ Giao Châu và bắt đầu cuộc dịch chuyển từ Thuận Thành về bên này sông, những yếu tố hạt nhân của thành Đại La sau này đã ngưng kết.

 Vào đời Đường, năm Hàm Thông thứ 5 (863), Nam Chiếu chiếm được An Nam đô hộ phủ. Cao Biền được trao chức An nam đô hộ kinh lược chiêu thảo sứ để giải phóng châu quận. Năm 866, Cao Biền hạ được thành và phản công thắng lợi.

 Cao Biền trong các tài liệu cổ sử trước hết là một nhà quân sự xuất sắc, một nhà thực dân lão luyện, một nhà thủy lợi – địa lí nhiều thành quả. Đồng thời đó cũng là một người tin vào tín ngưỡng thần linh đến mê hoặc.

 Đến đây, chúng ta rõ ràng nhận thấy ý thức về núi Ba Vì như một biểu tượng thiêng liêng cho cơ đồ quốc gia đã hiển lộ. Đã dựng thành Đại La làm trị sở thì không thể không tính đến các yêu tố định vị địa lí tương quan, trong đó sông núi là quan trọng bậc nhất.

 Lĩnh Nam chích quái, một kỳ thư của thời kì Đại Việt ghi về Tản Viên sơn thần có kể chuyện Cao Biền trấn yểm thần bị thất bại. Lời than của Cao Biền không thể gì khác hơn sự thừa nhận tính thiêng của biểu tượng này. Truyện viết: “Biền đem thuật đó để yểm thần núi Tản Viên, thì thấy thần cưỡi ngựa trắng ở trên mây, nhổ nước bọt xuống rồi bỏ đi. Biền than rằng: “Linh khí ở phương nam không thể lường được, vượng khí đời nào hết được!”.

 Lúc này, biểu tượng núi Ba Vì đã tỏa rộng: Linh khí của phương nam.

 Thế kỉ X là một thế kỉ biến động nhất trong lịch sử dân tộc. Từ Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo (907), Dương Đình Nghệ (931), Kiều Công Tiễn (937), đến Ngô Quyền (938), Dương Tam Kha (945), Ngô Xương Văn (951), các sứ quân (966), Đinh Bộ Lĩnh (968), Lê Hoàn (980), lịch sử đã vận động từ nội thuộc sang li khai tự chủ rồi đến độc lập dân tộc.

 Có nổi dậy khởi nghĩa, có xâm lăng và kháng chiến, có nội chiến và tranh giành…để cuối cùng, kỉ nguyên độc lập vững bền được khẳng định, quốc gia Đại Việt từ đó trường tồn.

 Ngô Quyền, năm 938, chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, định đô ở Cổ Loa. Những định vị địa lí cho một kinh đô lộ diện với các cột mốc được xác định. Lăng mộ Ngô Quyền ở Đường Lâm được chọn nhằm hướng chính Tây của Cổ Loa theo truyền thống Phật giáo là hướng về đất Phật tây vực. Phía đông, thẳng qua Trâu Sơn, có chùa và cột đá Cựu Tự, nhằm thẳng đỉnh núi Phượng Hoàng ở Chí Linh, phía bắc chắc chắn là Sóc Sơn, nơi mà nhà sư hoàng tộc Ngô Chân Lưu – Khuông Việt sẽ trấn trụ. Dù phía nam ta chưa khẳng định được nhưng với cách định hướng đó thì Ba Vì sẽ là núi thiêng ở hướng tây.

 Lúc này, núi Ba Vì chắc chắn được xác định như một biểu tượng thiêng liêng tầm cỡ quốc gia.

 Nhà Lý lên ngôi và dời đô về Thăng Long. Ý thức địa lí văn hóa cho Kinh thành nâng lên một cấp độ cao hơn rõ rệt và Ba Vì là một biểu tượng được thờ tự với chứng cớ rõ ràng.

 Trước hết phải nói đến tư tưởng của bậc đại sư Lý Vạn Hạnh. Là người kiến lập nên triều đại nhà Lý, Vạn Hạnh thiền sư đã nhìn nhận địa thế quốc gia bằng tri thức địa lí sắc sảo. Sách Thiền uyển tập anh, kể lại chuyện nhà sư đến mộ Hiển Khánh Vương trên đất Hoa Lâm, Đông Anh, Hà Nội đã xác định không gian đông tây nam bắc bằng bốn bài kệ nổi tiếng, trong đó, hướng Tây được xác định bằng Tản viên sơn-Ba Vì.

Tây vọng viễn vọng khan thiên trụ

Cao thế nam nữ thượng tướng thủ

Thiên Đức phú quí dữ viễn thế

Quân vương thọ mệnh cửu thập cửu.

(Hương tây trông xa ngắm Thiên Trụ

Thế cao trai gái giữ chức cao

Thiên Đức phú quí dư nhiều đời

Nhà vua mệnh thọ chín mươi chín).

 Ba Vì được xác định như là cột chống trời, trân linh một phương. Với tư duy đó, chính Vạn Hạnh là người có công hoạch định kinh đô Thăng Long tại vị trí thủ đô hiện nay. Lý Nhân Tông đã truy tán thiền sư, cũng là để ghi nhận công lao đó:

Hương quan danh Cổ Pháp

Trụ tích trấn vương kỳ.

 Việt sử lược ghi sự kiện năm 1016: Năm Bính thìn, hiệu Thuận Thiên năm thứ 7…Động đất. Tế vọng các danh sơn.

 Đại Việt sử kí toàn thư cũng ghi tương tự nhưng mở lời chú cho rõ hơn, lời chú này chắc lấy từ Việt điện u linh: “ Bính thìn, [Thuận Thiên] năm thứ 7 [1016]. Động đất. Làm lễ tế vọng các danh sơn. (Vua nhân đi xem núi sông, đến bến đò Cổ Sở, thấy khí tốt của núi sông, tâm thần cảm động, bèn làm lễ rưới rượu xuống đất, khấn rằng: “Trẫm xem địa phương này,núi lạ sông đẹp, nếu có nhân kiệt địa linh thì hưởng lễ”. Đêm ấy, vua chiêm bao thấy có dị nhân đến cúi đầu lạy hai lạy, nói: “Thần là người làng này, họ Lý tên Phục Man làm tướng giúp Nam đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai giải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm, bọn di lão không dám xâm phạm biên giới…”).

 Cách làm của Lý Thái Tổ đúng là cách lập đàn xã tắc (thủy đàn) để tế vọng DANH SƠN. Đây là lần thứ hai hoàng đế lập đàn. Nếu lấy núi Nùng trung tâm Thăng Long kéo một đường thẳng lên đỉnh cao nhất của Ba Vì thì sẽ đi qua đội đồng Xa Đống gần bến đò Cổ Sở xưa, đó là nơi Lý Thái Tổ lập đàn.

 Lần thứ nhất lập đàn xã tắc là sau khi định đô, Việt điện u linh ghi lại, vua Lý về Phù Đổng và phong cho vị “dâm thần” ở đó làm Xung Thiên Thần Vương. Thần Vương là ông Hộ Pháp giữ chùa của chùa chiền Phật giáo. Lấy núi Nùng làm điểm trung tâm, kéo một đường thẳng qua khu Vường Đống trên đất Phù Đổng, ta sẽ thẳng hướng lên đỉnh Yên Tử hướng chính đông. Hướng bắc chắc chắn vẫn là đỉnh Sóc Sơn, hướng nam sẽ kéo dài gặp đỉnh Quyển Sơn (theo truyền thuyết, nhà Lý lấy đỉnh núi làm nơi cắm cờ), xuyên xuống đỉnh Địch Lộng, vào kinh đô cũ Hoa Lư với cột đá Nhất trụ có từ thời Tiền Lê.

 Triều đại nhà Lý cũng lần đầu tiên xây dựng đền thờ thần núi Tản Viên. Dư địa chí chép: “Thần núi Tản Viên gọi là Trụ quốc đại vương, linh hiển có tiếng. Nhân Tông triều Lý sai thợ làm đền thờ trên ngọn núi thứ nhất, có lầu 20 tầng…”.

 Rõ ràng, với triều đại nhà Lý, biểu tượng Ba Vì đạt đến đỉnh cao nhất của giá trị cao quý và thiêng liêng.

Các triều đại Trần Lê tiếp tục cúng tế và xây dựng biểu tượng này trở nên linh thiêng trong lòng dân tộc độc lập. Ý thức quốc gia qua biểu tượng này càng rõ trong tác phẩm Lĩnh Nam chích quái. Là một trong 50 người con theo cha về biển, “Thần từ thủy quốc về đất liền theo con đường từ cửa Thần Phù, tìm chỗ sinh sống ở nơi cao ráo, thanh tịnh, dân chúng chất phác, phong thổ hiền hòa…”. Rõ ràng ở đây, ý thức về địa vực quốc gia cổ được những nhà ghi chép thể hiện, vì Thần Phù là cửa bể ở Ninh Bình, Thanh Hóa, cuối đồng bằng Bắc Bộ.

 Nguyễn Tông Quai, đời hậu Lê, khi chú sách Dư địa chí chép: “…Người đời Thanh nói, Tản Viên đại vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng thiên vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời, Ninh Sơn Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai. Ấy là An Nam tứ bất tử vậy”.

 Đến đây, Tản Viên đã được tôn vinh là một trong bốn vị thánh bất tử của Việt Nam.

 Các triều vua nhà Nguyễn không ngừng tu bổ tôn tạo các đền miếu, các di tích và ban sắc phong cho các vị thần chung quanh Tản Viên Sơn thánh, mở rộng hình tượng và truyền thuyết thờ tự, tạo nên một độ dày tư liệu đáng kể cho biểu tượng Ba Vì.

 Đến đây, ngẫm lại định đề văn hóa của Nguyễn Trãi: Núi ấy là núi tổ của nước ta đó, ta mới thấy tầm nhìn sâu rộng của “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” ( Trong lòng Ức Trai, văn chương sáng tựa sao Khuê).

 3. Không thể phủ định những công lao tìm hiểu, nghiên cứu, những công lao bảo tồn, phát triển và quảng bá của thời kì hiện đại.

 Cuộc cách mạng của chúng ta là cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, hai cuộc kháng chiến của chúng ta là tiếp tục chân lí độc lập dân tộc. Việc hướng về nguồn cội, hướng về nhân dân như là một động thái tất yếu của vận động lịch sử. Ba Vì – Tản Viên với giá trị cội nguồn của nó, với tinh thần nhân dân sâu thẳm của nó đã trở thành đố tượng nghiên cứu, sưu tầm và phát huy trong thời đại mới. Điều đó được ý thức là chủ trương, là nhiệm vụ, là trách nhiệm đồng thời là tình cảm tri ân uống nước nhớ nguồn.

 Các đoàn thực tế văn học dân gian của trường Đại học Sư phạm trong những năm đầu 1960 quanh chân núi Ba Vì, các đoàn khảo cổ học những năm cuối 1960, 1970 của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thăm dò và khai quật, Ty Văn hóa Hà Tây, rồi Hà Sơn Bình bền bỉ với văn hóa xứ Đoài lãng mạn và kiêu hùng , nhà nghiên cứu Từ Chi mê mải với dân tộc học để giải mã văn hóa Mường, vốn là cư dân bản địa chủ thể của Ba Vì, các chương trình nghiên cứu địa lí địa mạo, địa chất, nghiên cứu sinh vật học lần lượt tiến hành.

 Các chuyên luận nghiên cứu, các giáo trình đại học, các hội thảo khoa học đã góp phần thấu hiểu biểu tượng Ba Vì và giải mã những ý nghĩa, những giá trị xung quanh truyền thuyết Tản Viên Sơn thần với truyên ngôn dân gian là chuyện Sơn Tinh – Thủy Tinh. Những tranh luận là cần thiết để đi tới những tri nhận sâu sắc về số phận một huyền sử trong tiến trình văn hóa, tiến trình lịch sử của Thủ đô, của dân tộc, của quốc gia.

 Trong sự thấu hiểu ngày càng sâu sắc các truyền thuyết của nhiều phân môn khoa học xã hội, phải kể đến những ý kiến, những ghi chép dân tộc học của nhà nghiên cứu Từ Chi như là sự gợi mở quan trọng về không chỉ là nguồn gốc của cốt chuyện bản địa, các lớp ý nghĩa của nó mà còn là quá trình tích hợp văn hóa của các cư dân địa phương vào cộng đồng văn hóa quốc gia Đại Việt trong hơn một ngàn năm lịch sử.

 Nhưng chúng ta vẫn mang nợ Ba Vì một điều gì đó! Dù chúng ta đã không ngừng nghỉ. Tầng vỉa văn hóa của huyền tích Ba Vì – Tản Viên là quá dày dặn, quá rộng lớn. Đó chính là mồ hôi nước mắt của nhân dân bao đời không chỉ tụ cư, dựng xây, lao động. Đó còn là những sáng tạo thiêng liêng, là ý thức ái quốc, trách nhiệm quốc gia của họ. Vật đổi sao dời, sông núi đổi thay, chiến tranh tàn phá…, những số phận cá nhân có thể mất đi cùng những cuộc bể dâu, cái còn lại lại chính là những trầm tích văn hóa tinh thần, tưởng chừng mỏng manh, lại vô cùng bền bỉ nuôi sống tâm linh, ý thức nhiều triệu con người qua hàng trăm thế hệ.

 Huyền tích vùng Ba Vì chỉ cho ta một mỏ vàng văn hóa hàm lượng rất cao nhưng hình như chúng ta chưa chắt lọc và tôi luyện được những thỏi vàng óng ánh.

 Chúng ta đang nợ Ba Vì ở chính tính Biểu Tượng mà nó đã có, mà nó vốn dĩ đã chứa đựng: Một biểu tượng quan trọng tầm quốc gia chứ không chỉ riêng cho Thủ đô.

 Trước hết, những cái gì của Xê da thì trả cho Xê da. Cần thấu hiểu và trả cho biểu tượng Ba Vì cái mà ngàn năm đã tích tụ.

 Chúng ta cần bảo tồn, phát huy có định hướng bồi đắp tính biểu tượng dân tộc, quốc gia cho Ba Vì.

 Chúng ta cần thiết việc quảng bá biểu tượng đó ra tổng thể văn hóa thế giới, không chỉ vì một biểu hiệu Tổ quốc mà vì trách nhiệm đóng góp đặc sắc văn hóa Việt Nam cho cộng đồng văn hóa thế giới.

 Kì vọng biểu tượng Ba Vì trên truyền thông văn hóa sẽ như Thái Sơn, Olempia… Bình đẳng và đa dạng. Đó chính là tư cách quốc gia trong cộng đồng nhân loại.

Hà Nội 9/11/2015.

 

fShare
0
Top