Muốn sang thì bắc cầu kiều...

fShare
0

MUỐN SANG THÌ BẮC CẦU KIỀU…

Nguyễn Hùng Vĩ.

 

    Tôi viết những ý kiến này từ lời đề nghị của BBT Báo Điện tử Người đưa tin, mong muốn góp lời cho mục Đa chiều từ bài báo “Ca dao “…yêu lấy thầy” có dị nghĩa? Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy” của tác giả Lê Hoa.

    Dù không muốn tranh luận (tôi thường ngại) nhưng thỉnh thoảng tôi buộc nhắc tới ý kiến tác giả để góp ý cho sáng mạch văn thôi.

    Là người nghiên cứu văn học dân gian nên tôi biết rằng, hơn 20 năm trước, trên Tạp chí Nguồn sáng của Hội Văn hóa dân gian Việt Nam đã có một cuộc trao đổi về hai câu ca dao này với nhiều ý kiến khác nhau, trong đó những ý như bạn Lê Hoa viết trong bài báo trên. Tiện thể, khi đề cập, tôi cũng đưa ý kiến của mình luôn.

I.Vấn đề dị bản

    Đây là một vấn đề tự nhiên trong văn học dân gian. Đã nghiên cứu văn học dân gian, bài học đầu tiên là tôn trọng các dị bản mà nhân dân đã sáng tạo nên trong đời sống của mình, đồng thời tôn trọng các cách hiểu, cách vận dụng trong cuộc sống của họ.

    Tuy nhiên, ngoài dị bản, còn có những bản sai. Bản sai thường do người diễn xướng sai, do người ghi chép sai, do người phiên Nôm sai, do ấn loát sai…Nhà nghiên cứu đứng trước bản sai thường phải làm cái việc gọi là đính chính các bản sai đó, đồng thời lí giải được nguyên nhân tạo ra các bản sai.

    Các cách hiểu khác thì tế nhị hơn nhiều vì vô vàn nguyên do, người nghiên cứu phải vạch ra được không chỉ là các cách hiểu khác nhau, mà lí do tồn tại các cách hiểu đó.

    Với hai câu ca dao đang đề cập, chúng tôi bàn đến câu chuyện dị bản trước.

    Các tác giả sưu tầm và biên soạn bộ Kho tàng ca dao người Việt (Bản in 2001) do Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật chủ biên, cho ta những chỉ dẫn về các dị bản của tác phẩm này từ cuối thế kỉ XVIII đến 1975 trên các tài liệu Hán, Nôm, Quốc ngữ khác nhau.

    Theo đó ta thấy Dị bản 1: (10 bản Nôm, 1 bản Quốc ngữ từ 1928 trở về trước):

Muốn sang thì bắc CẦU kiềuNam quoc phuong ngon

Muốn con hay chữ THÌ yêu LẤY thầy.

được ghi trong các tài liệu sau:

Nam phong giải trào, cuối XVIII, bổ sung 1827, bản in 1910, chữ Nôm có diễn thành thơ chữ Hán.

Nam giao cổ kim lý hạng ca dao chú giải, 1902 – 1905, chữ Nôm.

Lý hạng ca dao, dự đoán đầu thế kỉ XX, chữ Nôm.

-Đại Nam quốc túy, 1908, chữ Nôm.

-Quốc phong thi tập hợp thái, bản in 1910, chữ Nôm.

-Nam quốc phương ngôn tục ngữ bị lục, khắc in 1914, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ.

Nam âm sự loại I, 1914, chữ Nôm.

Nam quốc phương ngôn tục ngữ bị lục, Duy Tân Giáp Thân 1914, Quan Văn Đường tàng bản, tờ 35. NLV, R.276

Nam âm sự loại II, 1914, chữ Nôm.

Nam phong nữ ngạn thi, đầu XX, Nôm.

Phỏng thi kinh quốc phong, đầu XX, Nôm.

Tục ngữ phong dao 1928, Quốc ngữ.

    Dị bản 2, có 1 bản:

Muốn sang thì bắc cầu kiều

Muốn con hay chữ PHẢI yêu MẾN thày.

Hương hoa đất nước, 1949,chữ Quốc ngữ.

    Dị bản 3, có 1 bản:

Muốn sang thì bắc cầu kiều

Muốn con hay chữ PHẢI yêu LÒNG thầy.

Cổ Việt phong dao, khoảng 1950, chữ Quốc ngữ.

    Dị bản 4, có 1 bản:

Muốn sang thì bắc PHÙ kiều

Muốn CHO hay chữ PHẢI yêu MẾN thầy.

-Thi ca bình dân Việt Nam, 1970, chữ Quốc ngữ.

    Đến đây, ta có ba nhận xét sau:

    1, Về số lượng Dị bản 1 là 11, trong đó có đến 10 bản Nôm và 1 bản Quốc ngữ. Các Dị bản 2, 3,4 mỗi bản chỉ xuất hiện 1 lần và toàn là Quốc ngữ.

    2, Về thời gian, tất cả những bản trước năm 1928 đều thuộc Dị bản 1, còn các Dị bản 2,3,4 đều sau 1949.

    3, Dị bản mà tác giả Lê Hoa đưa ra chưa từng xuất hiện trong các sách vở từ 1975 trở về trước.

    Ở đây có điều cần nói, nhà nghiên cứu nên tránh đưa ra dị bản sưu tầm của mình nếu dị bản đó không được chứng thực bởi người dùng thứ hai hoặc nằm trong một tài liệu sưu tầm đã công bố hoặc được thẩm định. Tự ý đưa ra một dị bản, và nói do tôi ghi được, dễ sa vào chủ quan. Điều này nên tránh. Tốt nhất, chúng ta nên dựa vào những bản ghi của tiền nhân và xử lí trên những văn bản đó thì khách quan hơn. Kinh nghiệm nghiên cứu cho thấy có những trường hợp nhà nghiên cứu, phê bình đổi chữ theo ý mình rồi bình luận tác phẩm theo ý đó.

    Cũng trường hợp này, ta thấy, các bản Nôm thường sưu tầm độc lập với nhau, bởi vậy, tính phổ biến trong dân gian càng được chứng thực. Đây là lí do mà các tác giả biên soạn Kho tàng ca dao người Việt coi Dị bản 1 là bản đại diện. Các bản khác là phái sinh muộn, được ghi trong thời hiện đại, mang dấu ấn sửa sang gần đây hơn của người làm sách.

II. Vấn đề dị nghĩa:

   - Cầu kiềuSang: Trước đây, trên Nguồn sáng, có người cho rằng kết hợp cầu + kiều là bất hợp lí vì một chữ là tiếng Việt, một chữ là Hán Việt không thể kết hợp với nhau. Họ cho rằng ở đây kiều phải là đẹp, nên cầu kiều là cầu đẹp, dẫn tới sang phải hiểu là sang quí, sang trọng.

    Chuyện này không khó vì thứ nhất, kết hợp Việt + Hán Việt là rất thường thấy như: đỏ hồng, trắng bạch, cột trụ, thỉnh mời, áo xiêm,..thế thì cầu đi với kiều là bình thường. Đó là hai chữ đồng nghĩa kết lại với nhau; thứ hai, trong nhiều bản nôm, các cụ ghi chữ kiều đều có bô mộc, nghĩa là cái cầu chứ không phải là đẹp. Các cụ ghi theo cách hiểu sớm mà ta cần tham khảo. Vậy khó căn cứ vào đây để đưa ra cách hiểu sang là sang trọng. Cũng như vậy, chữ sang trong văn bản Nôm được ghi với bộ quai xước để chỉ hành động đi qua, vượt qua. Cụ thể hơn, trong văn bản được ghi sớm nhất là Nam phong giải trào, ở phần dịch sang Thi, câu Muốn sang thì bắc cầu kiều được các cụ dịch là Dục hà khả độ, giá kiều vi lộ, nghĩa là: Muốn có thể qua sông thì bắc cầu mà làm đường.

    Rõ ràng ở đây, ít nhất phô diễn cho ta cách hiểu sớm của các cụ xưa.

   - Yêu lấy thầy: Nghệ sĩ ưu tú Xuân Mùi, hát Quan họ, kể với tôi câu chuyện ông tham gia giám khảo cuộc thi Làng văn hóa, giám khảo đưa ra 2 câu trên để thí sinh bình luận. Một thí sinh trả lời: “Em về hỏi vợ em cái đã”. Giám khảo cho điểm thấp, thí sinh thưa lại: “Thưa! Yêu và lấy thầy thì chỉ có vợ em lấy, vậy em về hỏi vợ em là đúng chứ đấy ạ!”. Giám khảo cười và cho lên điểm. Đó là cái chuyện về một cái làng hay “nói lối” ở Kinh Bắc.

    Cũng trong Nam phong giải trào, các cụ xưa dịch câu Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy ra Hán tự như sau: Dục tử khả ngộ, duy sư chi mộ, nghĩa là: Muốn con có thể hay biết thì nên ái mộ thầy.

    Cả hai câu được dịch sang chữ Hán thành một bài là:

    Dục hà khả độ                                                  

    Giá kiều vi lộ

    Dục tử khả ngộ                                                                       

    Duy sư chi mộ.

    Đó là cách hiểu của các cụ đã thể hiện trên văn bản hẳn hoi cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX. Bởi tính đa nghĩa của chữ lấy nên người ta cũng bẻ trại nghĩa đi, chủ yếu để đùa tếu. Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) xưa cũng đã từng “cười” như vậy khi “lỡm” Thầy đồ ve gái: Người bảo rằng thầy yêu cháu đây/Thầy yêu mẹ cháu có ai hay/Bắc cầu câu cũ không hờ hững/Cầm kính tình xưa vẫn đắng cay…( trích từ Quốc văn tùng ký. Bản AB. 383 kí hiệu của Viễn đông bác cổ). Rõ ràng cách hiểu đó chỉ dùng trong tính chất giễu nhại mà thôi.

    Câu chuyện ngữ nghĩa, hãy khoan nói ngữ pháp hoặc cấu tạo cụm từ ở đây. Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn khi dạy chúng tôi thường nhắc rằng: Lý thuyết nhiều, khái niệm nhiều, trường phái ngữ học nhiều…khi gặp khó thì hãy đưa ra các ví dụ tiền lệ, chính cái tiền lệ nói năng đó sẽ thuyết phục người đọc, người nghe.

    Trong câu chuyện ta đang bàn, chúng ta hãy đưa ra một dãy tương ứng: yêu lấy mẹ, yêu lấy cha, yêu lấy con, yêu lấy chồng, yêu lấy vợ, yêu lấy anh, yêu lấy em, yêu lấy làng nước, yêu lấy việc làm, yêu lấy tổ quốc, yêu lấy đồng bào, yêu lấy thân mình, yêu lấy sự nghiệp v.v và v.v. Nhân dân ai cũng nói như vậy và không ai hiểu đó là yêulấy tách nhau ra cả.

    Vâng, ngôn ngữ của nhân dân đã như vậy hàng thế kỉ qua thì làm gì có chuyện phân ra cách hiểu của “người bình dân” khác cách hiểu “giới học giả” như bạn Lê Hoa “qua khảo sát” thấy vậy. Cả học giả và bình dân đều có một mẫu số chung là “nhân dân”. Đừng trừ khử đi phẩm chất bình dân trong giới học giả. Nguyễn Trãi cũng là người dân Việt đấy, Lê Quí Đôn đi nữa trước hết cũng là người dân Việt mà. Cách chia đôi như vậy thì sở cứ lắm lúc chả vững vàng gì cả, có người vừa là bình dân vừa là học giả thì sao nhỉ?

    Theo con mắt nhìn về ngôn ngữ thông dụng hiện nay thì rõ ràng trong kết cấu yêu + lấy + danh từ thì rõ ràng dân ta đã sử dụng tiếng lấy như một phụ từ bổ trợ cho yêu, chứ không phải như một động từ độc lập và bình đẳng với yêu trong kết cấu. Có người gọi là phó từ, hay trợ từ cũng được, tùy họ theo trường phái ngôn ngữ học nào.

    Bạn Lê Hoa đã trình diễn ý kiến của mình khá vụng về khi nói đã qua khảo sát “đông đảo người dân ở khu vực Nam Bộ thấy người ta dị ứng với từ “lấy”. Ai mà tin được kết quả khảo cứu ấy khi trong các từ điển tiếng Việt của những tác giả rất Nam Bộ như Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, ta thấy ngữ liệu đi với “lấy” không khác gì các vùng khác trên đất nước ta. Có nghĩa là cách hiểu của họ sẽ không khác cách hiểu các vùng khác trong trường hợp này.

III. Kết luận:

    Đến đây, ta thấy đề xuất mang tính “cá nhân” của tác giả Lê Hoa “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ phải yêu KÍNH thầy” cũng đơn lẻ như mấy Dị bản 2,3,4 mà thôi. Nay mai sẽ có người đề xuất thêm NÊN, CẦN, CỐ../ thay cho THÌ, PHẢI; rồi đề xuất QUÍ, TRỌNG, THƯƠNG, CHIỀU… thay cho LẤY, MẾN, LÒNG, KÍNH thì biết làm sao đây. Cá nhân nào cũng nói “tôi đã khảo sát”, “tôi đã nghe người nọ mắng con”, “có người nói thế này mới đúng” v.v. thì có mà chạy theo muôn đời à.

Hà Nội 25 – 10 – 2015.

  

  

 

fShare
0
Top