Tư liệu đáng nói về Hò đưa linh chèo cạn, dân ca Lệ Thủy, Quảng Bình

TƯ LIỆU ĐÁNG NÓI VỀ HÒ ĐƯA LINH CHÈO CẠN, DÂN CA LỆ THỦY, QUẢNG BÌNH.

Nguyễn Hùng Vĩ.

 

    Việc nghiên cứu cội nguồn lịch sử của dân ca miền trung, dân ca Nghệ Tĩnh, dân ca Bình Trị Thiên nói chung và dân ca Hò khoan Lệ Thủy nói riêng, xưa nay các học giả còn rất dè dặt. Một điều rõ ràng là, tư liệu thời trung đại ghi chép về ca nhạc dân gian, đặc biệt về vùng này rất ít, rất sơ sài. Rất may mắn là, với Hò đưa linh chèo cạn, một trong những làn điệu của hệ thống Hò khoan Lệ thủy, từ xa xưa đã được ghi chép lại khá rõ như là một tục hát cụ thể.

    Các ghi chép đó lại nằm trong một cuốn sách vô cùng quen thuộc mà ai nghiên cứu văn hóa hay lịch sử Quảng Bình, Quảng Trị đều đọc cả: cuốn Ô châu cận lục do TS Dương Văn An, người Tuy Lộc, Lệ Thủy, biên soạn vào năm 1553, thời nhà Mạc.

    Gắn với môi trường văn hóa huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thì cụ, vì là người bản địa, nên cụ đã dành số chữ rất nhiều để miêu tả các phong tục tập quán, các văn hóa vật chất và tinh thần của vùng này.Ở đây, tôi phiên âm một vài đoạn liên quan đến dân ca mà ta đang nói tới.

    Ở mục Tổng luận về phong tục (Phong tục tổng luận), sách này chép (trích):

Phiên âm:

    “Thôn lạc trù nhi kê khuyển tương văn, thủy thảo truất nhi ngưu súc bị dã. Công điền chi trung nhi tư khẩn giả diệc hữu, điền tô chi ngoại nhi đa thuế giả diệc đa. Giang hồ tự như, thừa thuyền thắng ư bộ hành; thổ địa cao du, đắc cốc hà tu ư lực dụng. Xoa y nãi bị hàn chi cụ, cảm chi vi chiếu dạ chi đăng.. Xuân khai phổ độ chi tràng, ỷ la tạp đáp. Hạ ư thiết tàng cưu chi tịch, ca vũ tân phân. Hữu nhân hữu tài, thung nghi thung dung. Tứ ngũ nguyệt tắc tích cốc ư điền nhi dụ kì vị thu. Lục thất nguyệt tắc phóng ngưu ư dã nhi kinh tuần bất mục. Mãi mại tắc nhậm địa lượng thủ, tuy tam đấu chi lật bất quá nhị tiền. Ẩm thực tắc xỉ dụng vô kinh, tuy số lẫm chi sản bất chi nhất tuế. Kê chính tam minh, nhân nhân hành thị. Canh sơ ngũ điểm, xứ xứ vãng điền. Canh tắc hệ dĩ lưỡng ngưu nhi tỉ kết kì trung. Sừ tắc trạng như nhất sàng nhi nhân lập kì thượng. Gia tuy hưu đa đa cốc lật, nang tằng vô lũy lũy kim ngân. Tang lễ tắc tốc ư mai táng, bất vi triêu tịch chi điện, dĩ phụng kì thân. Tế lễ tắc sùng vi tề bát, chí khoảnh ức vạn chi sản, dĩ mị vu Phật. Thành táng tắc ca vũ ư linh cữu chi tiền nhi danh viết “tiễn vong”, tiểu tường tắc điện tế ư kê minh nhi danh viết “đạo kị”. Thậm chí tụ hội chi đình tắc triêu hưng tịch triệt, phản phí lai niên; ca vũ chi trường tắc lậu xúc cổ thôi, tài ngu nhất dạ. Nhất hữu nạp sính, tắc dĩ nga nhãn khinh tiền nhi vi giá thú chi vật. Động hữu kì đảo, tắc dĩ kê đầu tiểu lễ nhi ca xướng chi nghi. Trạch Yên hô phu phi ngã tắc nhĩ. Thổ Ngõa hoán ngưu phi đế tắc thiên. Cựu ô nhiễm thâm, tân hóa vị thiển, tự hành đại giá nhi tang trung chi tục dĩ thai. Nhân tác cầu ngư, nhi kì thượng chi phong tẩm trưởng…”

Dịch nghĩa:

    “Xóm làng đông đúc, chung nghe tiếng gà tiếng chó. Năn lác tốt tươi, đầy đồng chăn trâu chăn bò. Trong công điền có cả tư điền, ngoài thuế ruộng còn nhiều thuế khác. Sông hồ đầy nước, đi thuyền dễ hơn đi bộ. Đất đai mầu mỡ, cấy lúa tốn ít sức người. Áo tơi là vật phòng lạnh, nhựa trám làm đèn thắp đêm. Ngày xuân mở hội bơi chải, phất phới lụa là. Tiết hạ bày tiệc tàng cưu, tưng bừng hát múa. Có người có cuả, theo thói thuận lề. Tháng tư tháng năm lúa chín đầy đồng gặt hái không kịp. Tháng sáu tháng bảy, trâu thả ngoài đồng, cả tuần chả coi. Bán mua đong đếm từng nơi, thóc 3 đấu không quá 2 tiền. Ăn uống không hề xa xỉ, của dẫu đầy kho ăn chả hết trong năm. Gà gáy lần ba, người người đi chợ. Đầu trống canh năm, chốn chốn ra đồng. Cày buộc hai trâu, lưỡi cày ở giữa. Bừa hình cái chõng, người đứng lên trên. Nhà tuy có tích thóc lúa nhiều nhiều, túi chẳng mấy khi đồng rủng rỉnh. Ma chay thì mau chôn cất, báo hiếu mẹ cha chả cần bày vẽ sớm chiều. Tế lễ thì chuộng đàn chay, tỏ lòng kính Phật không dốc muôn vàn của cải. Đưa ma thì múa hát trước linh cữu gọi là “đưa linh”. Giỗ đầu thì cúng đơm vào lúc gà gáy gọi là “giỗ trộm”. Đến như hội đình thì sớm mở chiều tan, để giành năm tới. Đám múa hát thì canh giờ thúc trống, chỉ vui một đêm. Nếu có cưới xin chỉ dùng món nhỏ tiền “mắt ngỗng” mang làm đồ ăn hỏi. Như khi khao thọ chỉ biện lễ mọn con gà bày nghi thức hát ca. Gái An Trạch gọi chồng không “ta” thì “mình”. Người Thổ Ngõa kêu trâu không “vua” thì “trời”. Còn tục xấu từ cổ thâm nhập đã lâu. Giáo hóa mới thấm nhuần còn mỏng. Cày thuê cấy mướn mà thói trong dâu đã nảy sinh. Nhờ nhau bắt cá mà tục sông Kỳ dần dần thấm nhiễm…” ( Có tham khảo bản dịch Ô châu cận lục, tư liệu Viện Hán Nôm).

 

    Trên đây là một đoạn trích, ngoài những mô tả lễ hội, tục hát ca thì ta thấy Dương Văn An đã ghi rõ tục Hò đưa linh bằng chữ Hán là “tiễn vong”. “Tiễn” cũng là “đưa”, “vong” cũng là “linh”. Tiếp đoạn sau đây thì ta sẽ rõ hơn.

     Đến đoạn sau, khi tập trung nói về phong tục Phủ Tân Bình, Dương Văn An viết: “ Thiển phiếm nhi Bồ Khê xuất sắc”, nghĩa là “Chèo cạn thì Bồ Khê hay nổi tiếng”. Dù Bồ Khê là ở Quảng Trạch ngày nay hay là tên khác của Bồ thôn, Xuân Bồ… thì trên đất Tân Bình lúc đó đã có Chèo cạn.

    Điều thú vị là, TS Dương Văn An rõ ràng dịch chữ “Chèo cạn” ra “Thiển phiếm” theo kiểu trực dịch. “Thiển” là cạn, “phiếm” là bơi, là chèo. Trong Hán văn Trung Hoa, người ta không viết và hiểu như vậy. Nếu dùng “thiển phiếm” thì nghĩa của họ chỉ là cạn cợt, nông cạn. Sự trực dịch này cho ta thấy, hai chữ Chèo cạn này, ít nhất đã có từ thời Dương Văn An làm sách, và qua đó ta càng thêm tin tưởng rằng, hai chữ “tiễn vong” cũng là dịch ngược hai tiếng bản địa “đưa linh”.

    Vậy, hò Đưa linh chèo cạn vốn đã từng có từ trước đó: năm 1553.

    Năm 1558, Nguyễn Hoàng mới xin anh rể mình là Trịnh Kiểm cho vào trấn giữ phương Nam và đóng dinh ở Ái Tử.

    Hò Đưa linh chèo cạn như ngày nay hát, được xếp vào điệu Hò mái nện, một trong các điệu của khoan Lệ Thủy.

    Chúng ta có thể mạnh dạn cho rằng, dấu tích Hò khoan Lệ Thủy đã hình thành và phát triển trước khi các chúa Nguyễn vào Ô châu trấn trị. Vậy cội nguồn xa xưa của nó chắc là từ truyền thống những cư dân Hoan Ái (Thanh Nghệ) di cư vào từ trước đó, như chính Dương Văn An, và sau này là Lê Quí Đôn trong Phủ biên tạp lục, đã viết khi đề cập đến “thổ âm” vùng này. Có thể nhìn thấy những nét tương đồng với một số điệu Hát ví trong các điệu hò mái ruổi, mái sắp, mái ba, mái chè… Bởi vậy, khi ta thấy những thông điệp về Hò đưa linh chèo cạn đã có ở Lệ Thủy, Quảng Bình thời gian này, thì cũng có thể suy đoán rằng, những làn điệu tương tự cũng đã từng có trước đó ở vùng Thanh Nghệ, đặc biệt ở Nghệ Tĩnh.

     Chúng tôi cho rằng, suy đoán này là có lí và gợi mở những nhận định về tiến trình lịch sử dân ca xứ Nghệ. Đồng thời, với thể thơ lục bát và song thất lục bát, vốn rất sở trường trong Hò đưa linh, mái ruổi, mái chè, mái sắp… và cũng sở trường trong Hát ví Nghệ Tĩnh, thì ta cũng có thêm tư liệu (vốn trước đây ít ỏi, có lẽ chỉ mới có chứng cứ rõ ràng trong tác phẩm Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao, cuối thế kỉ XV) để nối kết các mốc lịch trình của các thể thơ này.

    Nói điều này, không phải là không thừa nhận ảnh hưởng của dân ca Huế trong Hò khoan Lệ Thủy, đặc biệt khi Huế trở thành kinh đô nhà Nguyễn 1802, tích tụ và tỏa rộng văn hóa nghệ thuật của mình khắp mọi miền. Giao lưu âm nhạc dân gian là vô cùng phong phú. Nhưng có lẽ ảnh hưởng đó sẽ diễn ra về sau này.

    Từ kinh nghiệm quan sát những ghi chép trung đại về âm nhạc dân gian, có thể thấy rằng, cách nay hơn 400 năm, ghi chép của TS Dương Văn An là rất hiếm hoi và quí giá về một tục hát, điệu hát cụ thể. Những ghi chép khác đồng thời hoặc trước đó nói chung là rất sơ sài và ước lệ.

    Mọi sự chỉ mới dám nói đến thế. Chúng ta chờ đợi những so sánh về phong cách âm nhạc sẽ có thêm kết luận. Tôi cảm ơn Tiến sĩ Phạm Tuấn, Viện nghiên cứu Hán Nôm, đã kiểm tra trực tiếp văn bản chữ Hán kí hiệu A. 263 ở Thư viện của Viện giúp cho bài viết này.

 

Hà Nội 2/5/2016. 

Top