Ẩn ngữ từ một bài thơ cổ nói về tham quan bị tử hình

ẨN NGỮ TỪ MỘT BÀI THƠ CỔ NÓI VỀ THAM QUAN BỊ TỬ HÌNH

Nguyễn Hùng Vĩ.

 

     Giáo sư Hoàng Xuân Hãn trong luận văn Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long đã dành một mục khảo cứu về mối tình của Xuân Hương với quan Hiệp trấn Yên Quảng, một tham quan triều đình xử tội chết thời bấy giờ. Theo đó, qua ghi chép của Thám hoa Phan Thúc Trực trong cuốn Dưỡng Hạo Đỉnh tập Quốc sử di biên, soạn vào trước năm 1852, biên niên ba đời vua đầu nhà Nguyễn, có viết:

     “An Quảng tham hiệp dĩ hống hách dân tài tọa tru. Vạn Ninh châu điền đa hoang phế. Tham hiệp ức dân khai vi thục điền; dĩ sách thu ngân tiền thiên sổ. Châu nhân khống chi. Án lại Thủ dung cấu thành ngục, kiên giam nhất niên. (Kỳ tiểu thiếp Xuân Hương năng văn chính sự. Thời xưng tài nữ. Tham hiệp thường sử can dự ngoại sự. Thủ Dung tố kỵ chi)”.

Nghĩa là:

     “Quan Tham hiệp trấn Yên Quảng bị tội tử hình, vì dọa nạt dân để lấy của. Ruộng tại châu Vạn Ninh bị bỏ hoang nhiều. Quan Tham hiệp ép dân phở làm ruộng cày. Nhân đó ép dân nộp tiền, kể đến bạc nghìn. Dân châu này kiện. Viên Án thủ (trách nhiệm an ninh) tên Dung tố cáo làm Ông bị giam chặt trong một năm. Vợ bé ông là Xuân Hương, giỏi về văn chương và chính trị (chính sự). Bây giờ nổi tiếng là tài nữ. Quan Tham hiệp thường sai nàng dự vào việc quan. Viên Án thủ Dung vốn sợ ghét nàng…”.

     Đại nam thực lục cũng ghi lại chuyện này:

     “ Yên Quảng Tham hiệp Trần Phúc Hiển tư thu dân tiền tang chí thất bách mân. Sự phát. Đế viết: “ Tham hắc bất tru, hà dĩ khuyến liêm”. Mệnh Thành thần trị kỳ tôi. Hiển tọa tử”.

Nghĩa là:

     “Quan Tham hiệp trấn Yên Quảng, là Trần Phúc Hiển, ăn tiền hối lộ của dân đến bảy trăm quan. Sự ấy lộ ra. Vua nói: “Tham nhũng như thế mà không giết thì lấy gì mà khuyến liêm”. Bảo quan Bắc thành trị tội. Hiển bị án tử hình”.

     Theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Hồ Xuân Hương làm vợ lẽ của Trần Phúc Hiển vào khoảng năm 1815 – 1818, đến khi Trần Phúc Hiển bị tống giam vào tháng 5 và năm sau thì xử tử.

     Trước khi làm quan Hiệp trấn, ông vốn là quan tri phủ Phủ Tam Đái, tức phủ Vĩnh Tường ba năm sau.

     Cuộc đời vốn lận đận tình duyên của nữ sĩ, có những chặng thật là đau đớn.

     Trong di cảo được cho là thơ Hồ Xuân Hương ta thấy bài Khóc ông phủ Vĩnh Tường, nay đọc lên, lại càng thấy thấm thía cái nghĩa ngầm ẩn của nó.

     Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!

     Cái nợ ba sinh đã trả rồi

     Chôn chặt văn chương ba thước đất

     Tung hê hồ thỉ bốn phương trời

     Cán cân tạo hóa rơi đâu mất

     Miệng túi càn khôn thắt lại rồi

     Hai bảy tháng trời đà mấy chốc

     Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!

     Trong các bài khóc chồng, có lẽ bài này giàu tình cảm hơn cả. So với bài thơ Khóc Tổng Cóc thì âm hưởng khác hẳn, khóc đó mà cười đó.

     Nhưng đập vào tâm trí ta là những sự lạ. Thứ nhất, bài thơ chan chứa những số đếm. Tám câu thì có đến 6 câu mang số rồi: Trăm, ba, ba, bốn…hai, bảy, trăm. Chưa kể chữ năm với nghĩa là một năm cũng đồng âm với số 5, mà khi đọc lên, âm hưởng vẫn là đong đo. Sao mà phí phạm trong 56 chữ bài thất ngôn bát cú đến vậy? Thơ xưa vốn súc tích cơ mà.

     Rõ ràng ẩn ngữ ở đây, khi đưa nhiều số từ, là muốn hàm ý rằng, người chết đã chết vì chuyện…đếm chác, chuyện tiền bạc: Ông Phủ được thăng quan Hiệp Trấn và vì tham nhũng mà bị trị chết.

     Hai câu còn lại không chứa số từ nhưng có những tín hiệu cùng trường nghĩa: cán cânmiệng túi.

     Ngày xưa người ta tính vàng bạc bằng chỉ, bằng lạng. Tức là đem cân lên để định giá trị. Người miền trong quen gọi là “cây”. Sau giải phóng miền nam 1975, miền Bắc mới cũng gọi “cây’, lúc đầu là thời thượng, lạ lẫm rồi dần quen đi. Hai chữ cán cân đầy ẩn ý.

     Để giữ tiền, nhà buôn thúng bán mẹt thường dùng xâu, chuỗi, cọc. Anh giàu có phải dùng túi. Ẩn ngữ miệng túi ở đây là túi tiền.

     Cán cân tạo hóa rới đâu mất

     Miệng túi càn khôn thắt lại rồi.

     Hiển ngữ của nó chắc là: sự công bằng rơi đâu mất, trời đất này đã khép lại. Nhưng trong nghĩa bóng ta hiểu là: vì tiền bạc, khi đánh rơi công lí làm quan ( công – minh – chính - trực), thì chung cục cả tiền bạc, danh dự và tính mệnh ông cũng đồng thời khép lại.

     Bài thơ không chỉ mách cho chúng ta một sự kiện có thực trong cuộc đời Hồ Xuân Hương mà còn giúp ta hiểu thi pháp văn chương sâu kín mà thơ xưa vẫn sử dụng.

     Một vấn đề cần minh định là, đến năm 1822, thời Minh Mệnh, Vĩnh Tường mới nâng địa danh cấp Phủ, còn trước đó là phủ Tam Đái. Trần Phúc Hiển bị bắt 1818 và xử tử 1819.

     Có nhiều cách suy luận về điều này:

     Thứ nhất, từ chuyện Hồ Xuân Hương là vợ quan Hiệp trấn, vốn trước là quan phủ Tam Đái, mà nhà nho đương thời (trong dăm năm) làm bài thơ này theo phong cách thơ Hồ Xuân Hương để ghi lại khi đã có địa danh “phủ Vĩnh Tường”.

     Thứ hai, Hồ Xuân Hương làm bài thơ này sau khi đoạn tang Trần Phúc Hiển. Hai bảy là số từ chỉ thời gian đoạn tang rút gọn. Vốn là ba năm nhưng để rút gọn, dân gian tính tuổi theo thời gian trong bụng mẹ là chín tháng mười ngày. Ba 9 là 27 tháng. Sau ba năm thì phải gọi phủ Tam Đái là phủ Vĩnh Tường. Việc lấy cảm xúc từ hoài niệm là chuyện thường thấy trong sáng tạo thơ ca. Đó là những hoài niệm một quá khứ thật gần, còn nóng bỏng.

     Ở đây, thấy cần nhắc lại lời của Hoàng đế Gia Long về việc này, đã được chính sử ghi lại: “Tham nhũng như thế mà không giết, thì lấy gì mà khuyến liêm” (Tham hắc bất tru, hà dĩ khuyến liêm).

     Thời đại nào từ xưa đến nay, đức thanh liêm của người làm việc nước cũng được đặt lên hàng đầu. Không có điều đó, một chính thể chắc chắn mục ruỗng, xã hội sẽ hỗn loạn, nhân dân sẽ mất lòng tin.

     Chính sử sẽ có người đọc và có người không, còn thơ ca sẽ là bia miệng muôn đời nhắc nhớ cho ta mãi mãi những nhân cách xấu tốt, những công tội ngàn năm trước Tổ quốc, trước nhân dân.

 

Hà Nội 9 – 12 – 2016.

 

Top