TRUY NGUYÊN GỐC CHỮ ĐÀN TRONG TỪ ĐÀN ÔNG ĐÀN BÀ

fShare
0

Nguyễn Hùng Vĩ.

     Mang cái bản ngữ Nghệ Tĩnh ra Hà Nội học hành, đi thực tế gặp các cụ Bắc bộ nói liền ông liền bà rồi lại nghe người quan họ gọi nhau liền anh liền chị tôi cứ thấy là lạ.

     Cứ như quê mình thì nói nhất loạt là điền ông điền bà, đền ông đền bà hoặc đần ông đần bà, trong nam thì nói đờn ông đờn bà. Tuyệt không ai kêu đền chị đền anh, đần anh đần chị hay đờn anh đờn chị…cả.

     Trong sách giáo khoa hiện đại thì in là đàn ông đàn bà. Đầu tiên, cứ nghĩ rằng từ chữ đàn mà nó trại âm thành đền, đần, đờn, liền

     Trong các từ điển tiếng Việt thông dụng hiện đại, các nhà làm từ điển cảm nhận ra sự khác nghĩa của từ đàn trong đàn ông đàn bàđàn trâu đàn bò nên thường đặt từ đàn ông hoặc đàn bà riêng ra một mục nghĩa (Từ điển tiếng Việt thông dụng- Như Ý chủ biên-Nxb Giáo dục. HN. 1995).

     Các nhà làm từ điển chữ Nôm gần đây gặp trường hợp này thì với ĐÀN họ không chú thích nghĩa, với chữ LIỀN, họ chú nghĩa là một lớp người, một hạng người (Tự điển chữ Nôm – Viện khoa học xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm- Nxb Giáo dục. HN. 2006).

     Nhưng mà nghĩ lại, nếu chỉ một lớp người, một hạng người thì sao lại không có cách nói: đàn/liền thầy, sư, buôn, thợ, lính?.

     Xem lại một số từ điển xưa thì ta thấy:

     Năm 1651, với Dictionarvm Annammiticvm Lvsitanvm, et Latinvm Ope Sacr của Alexxandro de Rhodes (ta thường gọi là Từ điển Việt Bồ La) ta thấy chữ này được ghi:

      Đần oũ đần bàĐền oũ đền bà. Không ghi biến thể liền hoặc lền hay lần vì chắc phần này lấy ngữ liệu giọng miền trung. Dù trong từ điển này đã có mục đàn trước đó để chỉ nhạc cụ hoặc công trình kiến trúc, tôn giáo.

      Năm 1898, với Dictionnair Annamite-Francais của J.F.M Génibrel ta thấy được ghi là Đờn ông, đờn bà, con đờn anh.

     Các từ điển có chữ quốc ngữ khác trước thế kỷ XX chúng tôi không thấy ghi các chữ đàn, đền, đờn, liền theo nghĩa này.

     Trong văn bản Nôm, ta thấy:

     Ghi đàn có các ngữ liệu: Liệt dương mà chẳng được chi đàn bà (Sách Thiên Nam ngữ lục ngoại kỉ, 109b). Để một đàn con trẻ đàn bà, đem chứ hiếu mà gieo xuống đất (An nam nhất thống chí, 16a). Thấy con đại bàng nó cắp người đàn bà (Thạch Sanh diễn hí bản 1919, 14b).

     Ghi liền có các ngữ liệu: Giang sơn phó mặc liền em sau này (Lý hạng ca dao chú giải, bản chép lại 1964, 6b), Liền ông nông nổi giếng khơi. Liền bà sâu sắc như cơi đựng trầu (Lý hạng ca dao chú giải, bản chép lại 1964, 38a), Khôn ngoan cũng thể liền bà. Dẫu rằng vụng dại cũng là liền ông (Lý hạng ca dao chú giải, bản chép lại 1964, 38a).

     Đây là những bản chữ Nôm nhưng hoặc chưa biết niên đại chép hoặc chép lại muộn hơn các từ điển chữ quốc ngữ trên.

     Đáng chú ý là, việc ghi chữ liền này, các cụ dùng chữ nhân đứng biểu nghĩa và chữ lận biểu âm chứ không như những chữ liền khác, dùng chữ liên âm Hán Việt vừa biểu âm vừa biểu ý. Như vậy, chắc người chép còn lưu luyến với cách phát âm lền/lần ông, lền/lần bà chăng?

     Từ những ngữ liệu trên, chúng ta thấy rằng, chữ đàn trong đàn ông đàn bà có nghĩa khác với chữ đàn với nghĩa là đoàn, nhóm, lũ … vì chữ đàn này có gốc tích từ chữ ĐOÀN âm Hán Việt mà phát âm ngắn lại, tiết kiệm đi yếu tố O tròn môi.

     Vậy, chữ đàn trong đàn ông đàn bà  có lai nguyên từ đâu. Chúng tôi cho rằng, gốc tích của nó chính là chữ ĐIỀN âm Hán Việt.

     Sách Đạo giáo Trung Quốc (Chủ biên Khanh Hi Thái, người dịch Phạm Văn Hưng, lưu trữ tại khoa Văn học) cho ta tư liệu đáng để ý. Sách này trong mục THỔ ĐỊA viết:

      “Trong miếu Thổ địa ngày trước thường có cúng hai tượng thần: một nam một nữ. Vị thần nam phần lớn được hình dung trong hình tượng một ông lão tóc bạc, xưng là “Thổ địa công công”, thần nữ là vợ của “Thổ địa công công”, gọi là “Thổ địa bà bà”. Có nơi gọi là “Điền công”, “Điền bà”…”.

      Theo các tác giả sách này thì tục thờ và cách gọi tên này muộn nhất cũng từ thời Tống (thế kỷ X).

     Tôi cho rằng, chính đây là chìa khóa để truy nguyên chữ đàn trong đàn ông đàn bà hiện nay.

     Trong sử dụng ngôn ngữ, cách nói tôn xưng nhiều khi tạo ra những lớp nghĩa phong phú cho một từ vựng có gốc gác nghĩa ban đầu là rất khác. Ví dụ từ sếp, vốn chỉ những người có chức đứng đầu một đơn vị nhưng ngày nay đang dùng tôn xưng bất cứ ai với mình là có tí quyền nào đó. Cháu về thăm ông bà, nó mới 2 tuổi nhưng ông bà vẫn kêu lên: “Sếp đã về rồi!”. Hai chữ quan họ chúng tôi đã chứng minh là sử dụng để chỉ tất cả những người thuộc họ nhà quan nhưng gần đây ai đi hát là được gọi là quan họ tất (Xem: Nguyễn Hùng Vĩ- Hai chữ QUAN HỌ trong thư tịch cũ- Tạp chí Văn hóa Nghệ An.2010)

     Công sang ông thì là truyền thống rồi, vừa nghĩa vừa âm. Vậy, hai tiếng điền công/ông – điền bà vốn chỉ thần cai quản đất đai nhưng rồi sau này được mở rộng nghĩa với sắc thái tôn xưng, thậm xưng để chỉ tất cả những ai có ruộng đất và có quyền cai quản đất nhà mình, rồi tiếp theo là dùng với nghĩa đàn ông đàn bà nói chung.

     Ở đây có thể thấy từ âm Hán Việt là điền trong điền ông điền bà mà có những phái sinh ngữ âm:

     -Giữ nguyên: điền ông điền bà.

     -Đổi phụ âm đầu đ=>l: liền ông liền bà.

     -Trại phần vần: iên => ên, ân, ơn… => an: đền/đần/đờn/đàn ông…bà.

     Trong đó, theo chúng tôi, biến thể đàn có thể là khá muộn vì các từ điển xưa hơn và các phương ngữ (có tính bảo lưu) không ghi nhận.

     Với trường hợp đàn (so giữa đàn ông đàn đàn bàđàn trâu đàn bò) thì có sự giao thoa trường nghĩa khi nó dùng chỉ một lũ, nhóm nào đó gần với chỉ số nhiều trong loại hoặc hạng người.

     Sự truy nguyên này giải thích, tại sao các văn bản quốc ngữ cổ ghi đần, đền chứ không ghi đàn. Và trường hợp chữ Nôm dùng lận để biểu âm.

     Về nghĩa, người khu tư trước đây phân biệt cách dùng. Điền, đền, đần của họ chỉ đi với ông, bà mà không đi với nhóm lũ động vật. Họ nói bầy hoặc đàn: đàn trâu, đàn vịt, đàn kiến, đàn chim mà không bao giờ nói điền (đần, đền) trâu, vịt, chim, kiến…

     Cũng về sắc thái nghĩa, cái sự chuyển từ điền sang đền, đần, liền cho ta thấy từ đàn ông đàn bà tại sao lại có sắc thái chỉ “lớp người, hạng người” đã có tuổi, được khẳng định vị thế khi so với thanh niên, thanh nữ.

     Một sự tôn xưng tiếp theo trong môi trường quan họ, vì họ là thuộc về nhà quan nên la có liền anh liền chị. Lâu dần trở thành từ vựng quen thuộc.

     Trường hợp đàn anh, đàn chị với sắc thái chỉ hạng người có thứ bậc xã hội cao hơn hoặc lõi đời hơn cũng là từ cách nói thâm xưng, tôn xưng lâu dần thành quen, bổ sung cho vốn từ vựng.

     Tóm lại là, cái sự phân nghĩa này càng nói lên lai nguyên của hai chữ đàn này là thuộc hai gốc khác nhau:

     Chữ đàn trong đàn ông đàn bà có lai nguyên ĐIỀN, còn chữ đàn trong đàn trâu đàn bò có lai nguyên ĐOÀN.

     Trên đây là một hướng truy tìm của tôi. May ra mà đúng. Mong được mọi người góp ý.

 

Hà Nội ngày 25/2/2018.

fShare
0
Top