Hát Quan họ - Giải thích nguồn gốc từ kí ức bản quán

fShare
0

Chúng tôi đã khảo hai chữ quan họ trong thư tịch cổ và so sánh với hai chữ quan hộ cũng trong thư tịch cổ Trung Hoa - mà từ điển đã giải nghĩa dựa trên ngữ liệu từ đời Kim đến đời Tống - và thể hiện nó trong bài viết Hai chữ quan họ trong thư tịch cổ. Bài viết lần đầu tiên trong lịch sử nghiên cứu dân ca này đưa ra những chứng cứ văn bản rõ ràng và không thể phản bác. Ta thấy ở đây, hai chữ quan họ (Việt) cũng như hai chữ quan hộ (Hán) đều có nghĩa chỉ nhà quan cùng di duệ, quyến thuộc, kẻ ăn người ở phục dịch cho nhà quan. Và bởi vậy, hát Quan họ là tiếng hát của họ, hát ở cửa quan, phục vụ cho giao tiếp và thưởng thức của quan viên (nghĩa gốc là những người làm việc quan, việc công). Bài viết này của chúng tôi đi một bước tiếp theo là trong kí ức bản quán, người dân giải thích cội nguồn tục hát Quan họ, qua đó, giải thích hai chữ quan họ như thế nào, có phù hợp với nghĩa mà chúng tôi đưa ra hay không? Nếu phù hợp thì có nghĩa những cách giải thích của những người nghiên cứu xưa nay phải được xem xét lại.

Tôi sử dụng bốn chữ kí ức bản quán như một khái niệm nghiên cứu văn hóa truyền thống. Có thể thay bản quán bằng địa phương cũng được nhưng hai chữ địa phương nghĩa rộng hơn, mà điều tôi muốn là kí ức của chính vùng dân đang hát Quan họ.

Khái niệm kí ức bản quán bởi vậy sẽ có những nội dung cơ bản như sau:

- Nó là một loại quan niệm được cộng đồng ghi nhớ về cội nguồn, tính chất của một tập tục, một thói quen, một thành quả vật chất hoặc tinh thần từ xưa truyền lại.

- Kí ức này có thể nằm dưới dạng nên lời hoặc dạng không lời.

- Dưới dạng nên lời nó sẽ là các lời cắt nghĩa, các giai thoại, các truyền thuyết, các tự sự dân gian.

- Dưới dạng này nó sẽ là các diễn ngôn dân gian, mà khi chúng ta tiếp xúc, chúng ta sẽ lí giải nó không chỉ về mặt nghĩa mà còn cần chú ý đến chủ thể phát ngôn, cấu trúc của diễn ngôn, sắc thái thể hiện, tình cảm thái độ, hoàn cảnh phát ngôn, thời điểm phát ngôn, mục đích phát ngôn cũng như khuynh hướng tư tưởng của người sưu tầm diễn ngôn đó…

- Với một hiện tượng, có nhiều kí ức bản quán khác nhau và điều này càng giúp cho việc so sánh để tiếp cận chân lí.

Không một nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống nào lại không chú trọng đến công tác điền dã dân tộc học để truy tìm kí ức bản quán. Về thực chất, đối với hát Quan họ, công việc này đã được làm từ đầu thế kỉ XX qua những miêu tả lẻ tẻ và được làm với ý thức nghiên cứu khoa học từ 1956 bởi nhóm sưu tầm của Vụ Nghệ thuật Bộ Văn hóa lúc đó. Việc này sẽ được tiếp tục 4 năm sau đó khi nhóm Lưu Hữu Phước, Nguyễn Viêm, Tú Ngọc sưu tầm và làm công trình Dân ca Quan họ Bắc Ninh in năm 1962. Thời điểm này là rất đáng lưu ý vì tuy rằng, qua 9 năm kháng chiến chống Pháp, sinh hoạt hát Quan họ truyền thống lúc này hầu như chỉ  còn le lói nhưng lớp nghệ nhân đã chơi Quan họ trước Cách mạng Tháng Tám, thậm chí cuối thế kỉ XIX vẫn còn. Họ vẫn có thể đại diện cho lớp người của truyền thống. Những người cung cấp bài bản cũng như kí ức cho các nhóm nghiên cứu, một số 18 năm sau, sẽ trực truyền (đúng kiểu truyền miệng dân gian) vốn hát cho lớp nghệ sĩ đầu tiên của Đoàn dân ca Quan họ Bắc Ninh. Từ đó đến nay đã hơn nửa thế kỉ trôi qua với sự phát triển phong phú của các phương tiện truyền thông đại chúng. Lớp “nghệ nhân” trên dưới 70 tuổi hôm nay đọc qua sách, nghe qua đài, học hát qua Đoàn, qua băng đĩa, tập huấn qua các đợt thi hát… nên kí ức bản quán về tục hát của họ biến động mạnh mẽ. Số người cung cấp bài bản năm 1962 nay còn lại 2 người là “cô” Tình và “cô” Bướm người Ngang Nội, vẫn diễn Chèo khỏe re khi làng mở hội. Trở lại điền dã trước sau năm 2000, khi hỏi về tục hát ta sẽ gặp các “cụ” nói như sách, có nghĩa là, một kiểu kí ức dân gian rất mới, sinh động đã hình thành trong xã hội thông tin phát triển. Hiện nay vẫn có những người dân đang chắp nối những tên làn điệu thành bài thơ lục bát, một kiểu kí ức bản quán mới vẫn tiếp tục sinh thành. Bởi vậy, với mục đích bài viết này, chúng tôi không làm lại cái chuyện đi thực địa nữa mà sẽ dựa vào những ghi chép trước đây và sẽ “đọc” lại nó. Công việc của chúng tôi gặp thuận lợi là vào năm 1978, nhóm các nhà nghiên cứu Đặng Văn Lung- Hồng Thao- Trần Linh Quý khi làm sách Quan họ- Nguồn gốc và quá trình phát triển đã công phu tập hợp và có bổ sung trong phần tiểu luận do tác giả Đặng Văn Lung viết. Chúng ta hãy tiếp xúc với các kí ức này qua sưu tầm của họ. Chỗ nào cần chú ngay để mọi người hiểu, tôi sẽ ghi chữ Cước chú.

1. Tác giả Nguyễn Duy Kiện, năm 1940 trên Việt báo cho biết : “…từ thời thượng cổ nhân dân hai làng Lũng Giang và Tam Sơn giao hảo với nhau…Làng Tam Sơn hằng năm cứ tháng giêng có lễ vào đám thờ cúng thành hoàng, trong làng mở hội. Các cụ bên Lũng Giang sang chơi. Sáng ngày 13 tháng giêng, họ họp nhau độ 5-7 cụ ông, 5-7 cụ bà và một số đông nam nữ biết hát Quan họ kéo nhau sang Tam Sơn dự hội. Tam Sơn cũng cử một số người ra thù tiếp bạn. Sau khi ngồi trên dưới thứ tự tại đình thì bắt đầu hát…Từ thuở ban sơ cổ đại, hai làng cứ theo tục này mà di truyền. Đó cũng là nguồn gốc của hát Quan họ”.

Cước chú: Đây là ý kiến của tác giả, chắc tác giả nghe nhân dân truyền tụng. Thượng cổ hay ban sơ cổ đại thì chắc chắn chưa có kiến trúc đình. Hơn nữa hội làng Tam Sơn là ngày 8-2. Lim mới là 13 tháng giêng. Dân hai làng nắm rất chắc lịch hội của nhau. Tác giả đã ghi chép rất lơ mơ.

2. Tác giả Lê Văn Hảo, năm 1962, trích trong Bắc Ninh tỉnh khảo dị (bản viết tay, Thư viện Pari, tập I, quyển 5) một đoạn như sau:

“ Làng Viêm Xá kết nghĩa với làng Hoài Bão. Viêm Xá mở hội thờ thần vào mồng 4 tháng giêng và mồng 10 tháng tám. Mỗi lần có hội, Viêm Xá mời một đoàn trai Hoài Bão sang. Sau khi tế lễ xong thì tổ chức ca hát. Bên Viêm Xá toàn nữ, bên Hoài Bão toàn nam. Trai gái hai làng hát đối đáp với nhau. Dân Viêm Xá quan niệm rằng năm nào làng không cử hành như vậy thì trong làng sẽ xẩy ra nhiều sự bất an, người vật bị ốm, mùa màng thất bát, buôn thua bán lỗ, dân làng cãi cọ nhau, trai gái sinh ra tật hư nết xấu. Vì vậy mà có hát Quan họ”.

Cước chú: Nguy quá. GS Lê Văn Hảo trích thế này thì nguy quá. Tôi đã thẩm định lại tư liệu này kĩ lưỡng, hóa ra trong Bắc Ninh tỉnh khảo dị không có đoạn nào y như trên. GS đã chắp ý (ý chứ không trích) 4 câu trước ở q. 5 khi cụ Phạm Quang Lộc kể về một bữa hát ở làng Viêm Xá năm 1920, với câu thứ 5 thì một nửa lấy ý ở q. 4 khi viết về tuc hát ở xã Quảng Lãm và một nửa lấy ý cũng q.4 khi viết về tục hát và đánh chen ở xã Nga Hoàng. Câu cuối của đoạn trên là ý riêng của tác giả vì, qua việc truy tìm hai chữ quan họ trong thư tịch, tôi thấy, trong cả cuốn ghi chép dài dằng dặc này không có lấy một chữ quan họ nào cũng như không nói đến nguồn gốc hát quan họ. Thuyết này vứt đi vì đưa tư liệu đánh lừa giới nghiên cứu.

3. Nhóm Lưu Hữu Phước- Nguyễn Viêm- Tú Ngọc, 1962 công bố cả tư liệu in ronéo từ 1956 cho biết: Ông Tập ở Viêm Xá kể: Cách đây 12 đời, có hai người làm quan thị vệ ở trong triều, một người quê ở Diềm, một người quê ở Bịu…Hồi làm quan, hai người chơi với nhau, đến khi về hưu thì giao ước kết bạn đi lại, nếu ở làng ai có vui như cưới xin, khao lão thì mời cả hai họ về dự. Thời đó nhân dân vẫn có hát Đúm, nhưng từ khi hai họ này kết bạn thì người ta đem những câu hát Đúm vào để ca hát trong những ngày vui đó. Từ đấy lưu truyền thành tục lệ này, cứ hội Diềm tháng 8, hội Bịu tháng 1, người ta lại tụ họp, ngồi xung quanh một ngọn đèn lớn để ca hát và Quan họ do đó sinh tên (hai họ nhà quan hát với nhau) và từ đấy gọi “Quan họ” thay thế cho hát Đúm.

4. Ông Thanh ở Bịu Sim kể: Cách đây gần 300 năm, ở Bịu Sim có Trạng Bịu vinh quy về làng, dân chiêu lập ấp. Những năm được mùa, nhân dân hát Đúm với nhau, nhưng vì ở gần cụ Trạng nên đổi tên hát Đúm thành Quan họ cho thanh lịch…

5. Ông Vinh ở Châm Khê cho biết: Trước đây, thời chúa Trịnh, người ta dùng Tuồng, Chèo để hat mừng đám cưới, đám khao, sau thấy nội dung và hình thức không hợp nên lấy một số điệu hát trữ tình trong dân ca và sáng tác một số điệu nữa để hai họ hát khi cưới xin, do đó đổi thành “Quan họ”, nghĩa là quan viên hai họ.

6. Ông Lạc ở Lim kể: Cánh đồng làng Lim có dòng sông Tiêu Tương, quân lính Trạng Bịu kéo gỗ trên ngàn về bị cạn ở đấy. Nhân dân làng Lim rủ nhau ra kéo giúp. Hai bên hò hát để kéo gỗ, rồi sau cứ lưu truyền mãi. Bài hát của quan quân kéo gỗ nên gọi là Quan họ.

7. Có cô gái cắt cỏ ở trên núi Quả Cảm… Cô cất tiếng hát:

Tay cầm bán nguyệt xênh xang

Bao nhiêu thảo mộc lai hàng chị đây.

Lúc ấy chúa Trịnh đang đi kinh lý ven sông Cầu, dừng lại nghe hát và cảm phục người đẹp hát hay, lại có khí phách anh hùng, bèn vời vào triều lấy làm vợ. Câu hát hay làm cho quan phải dừng lại, “họ” lại. Hiện ở thôn Diềm đang còn có đền thờ.

Cước chú: Những tư liệu thuộc type này ở đây được ghi lại vào năm 1956. Theo chúng tôi, có những văn bản ghi sớm hơn. Cụ thể gia phả họ Trương ở Như Quỳnh (Kinh Bắc Như Quỳnh Trương thị quý thích thế phổ) viết vào khoảng cuối đời Lê ghi về cung phi Trịnh Thị Ngọc Chữ, lấy Trịnh Bính như sau: “ Bà sinh ra vốn xấu, nhưng tiếng hát hay. Lúc trẻ, Bà ở nhà quê làm nghề đồng áng. Một hôm Bà cắt cỏ dọc đường quan. Bấy giờ có cháu chúa là Trịnh Bính, cưỡi xe đi qua làng Như Quỳnh. Ai ai cũng tránh. Chỉ Bà vẫn cắt cỏ như không nghe gì, và không tránh. Bà hát: Tay cầm bán nguyệt xênh xang / Một trăm thức cỏ lai hàng tay ta. Và: Mặc ai che tán che tàn ? Ta đây mặc sức nghênh ngang cõi bờ. Tiếng hát lanh lảnh. Trịnh Bính nghe, lấy làm lạ, bèn đòi tới, hỏi: “Ta qua đây ai cũng tránh. Chị là con gái nhà ai mà dám hát động đến tai ta?”. Bà trả lời: “Tôi là con gái nhà quê. Tôi cắt cỏ cứ cắt cỏ. Vương xa đi trên đường thì tôi phải tránh làm gì?. Trịnh Bính dừng xe, gọi cha Bà tới, rồi xin đem Bà về cung. Sau đó Bà rất được yêu quý”.

Tư liệu này có trước những ghi chép hiện đại như trên khoảng những 200 năm. Điều lí thú là, theo GS Hoàng Xuân Hãn, tác phẩm Chuyện Ỷ Lan, một truyện thơ lục bát thế kỉ XVIII cũng do một Thị nội cung tần  họ Trương, là Trương Thị Ngọc Trong soạn.(Xem La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập III, các trang 979-985). Chúng ta đọc thì thấy trong truyện thơ của Bà này về Ỷ Lan không có type truyện Tay cầm bán nguyệt… Có lẽ chi tiết của Bà Ngọc Chữ đã lẫn sang chuyện Ỷ Lan trong dân gian chứ thời Lí làm chi đã có thơ lục bát. Chúng tôi cũng đã đi tìm theo hướng Vua Bà ở Diềm chính là một Bà phi thời Lê – Trịnh nhưng khảo cứu chưa có kết quả chắc chắn nên chưa tiện công bố. Họ Trương là quý thích tức là họ ngoại của nhà chúa đồng thời có đến nhiều đời hát cửa quyền (quyền môn ca) cho phủ chúa. Họ này sản sinh nhiều cung phi, danh ca, danh kĩ và sống cũng như làm ăn ở nhiều vùng trên đất Bắc Ninh xưa từ đầu đời Lê. Ngày xưa có anh Trương Chi… biết đâu là có vang bóng lịch sử. Đó cũng là điều hấp dẫn chúng ta.

8. Ông Ngậu ở Châm Khê kể: Ngày xưa có cô Tuấn Khanh giả trai đi học, kết bạn với Tải Chung. Tải Chung được đi thi, còn Tuấn Khanh là nữ phải về quê, nhưng hai người vẫn giữ tình bạn cũ. Họ đi lại chơi bời, ca hát, họa thơ… với nhau.. Dần dần lưu truyền những câu hát của họ gọi là Quan họ…

9. Anh Trương Chi “người thì thậm xấu, hát thì thậm hay” là một người dân chài trên dòng Tiêu Tương và sông Cầu. Mị Châu con quan mê giọng hát của Trương Chi, còn Trương Chi tương tư Mị Châu về nhan sắc. Anh lái đò đặt ra những câu hát tương tư mong nhớ, những câu hát đó truyền đến ngày nay thành Quan  họ.

10. Cụ Tư la ở Thị Cầu kể: Thời nhà lý, có ông Lý Công Uẩn chạy giặc (giặc gì không rõ) qua vùng Bắc Ninh. Nhân dân ra hát Đúm, quân giặc dừng lại nghe nên Lý Công Uẩn chạy thoát. Từ đấy, hát Đúm gọi là Quan họ.

11.Có một cô gái hái củi ở trên núi Chè, cô cất tiếng hát:

Tay cầm bán nguyệt xênh xang

Bao nhiêu cây cỏ lai hàng tay ta.

Lúc ấy chúa Trịnh đang đi kinh lí trên đường, dừng lại nghe tiếng hát. Cảm phục người đẹp lại có khí phách anh hùng, Chúa lấy làm vợ, gọi là bà Chúa Chè. Bà Chúa Chè tức Đặng Thị Huệ. Câu  hát hay làm cho quan phải dừng lại nên gọi là Quan họ.

12. Một cô gái hái củi trên núi Quả Cảm, cô cất tiếng hát như trên. Lúc ấy thuyền Thủy Tế đi kinh lí qua sông Cầu, nghe hát hay, trông lên lại thấy đám mây hồng che trên đầu người con gái. Biết là người trời, Thủy Tế lấy làm vợ. Ở Diềm còn có đền thờ bà, nay gọi là nghè Vua Bà.

13. Các nghệ nhân Diềm Xá có câu ca dao:

Thủy tổ quan họ sang ta

Những lời ca xướng Vua Bà sinh ra...

14.  Các nghệ nhân ở Bịu cũng có câu:

Quan họ là chúa sinh ra

Bịu Sim là gốc ai mà  không tinh.

15. Truyền thuyết vua Lí đi tuyển cung phi, qua Thổ Lỗi, nghe một người con gái hát câu:

Tay cầm bán nguyệt xênh xang

Muôn vàn cây cỏ lai hàng tay ta.

Vua trông ra, thấy cô gái tay cầm cây liềm, đứng tựa cây lan mà hát. Vua cảm về người đẹp....bèn lấy về làm vợ, đặt làm Ỷ Lan phu nhân. Nhân dân Thổ Lỗi lập đền thờ bà và hát mãi giọng hát của bà, nên gọi là hát Quan họ.

16. Có thuyết cho rằng hát Quan họ do vua Lý đặt ra để dân chúng hát trong dịp cưới giữa hai họ trai gái.

17. Làng Đình Bảng truyền tụng: hình như hát Quan họ phát sinh vào thời nhà Trần dấy nghiệp. Do lòng mến tiếc của dân làng đối với nhà lý nên...các hương chức trong làng tổ chức ngày giỗ vị vua đầu tiên của nhà Lý... Nhân đó tổ chức hát Đúm cho buổi lễ thêm long trọng. Nhưng vì hát Đúm không được nghiêm trang, nên sau đó các cụ bèn đặt thêm những giọng mới, những luật lệ, lề lối cho thích hợp với cuộc hát đại lễ. Vì vậy nên gọi là hát Quan họ.

 

Trên đây là 17 mảnh kí ức bản quán mà các nhà nghiên cứu từ năm 1940 đến 1978 đã sưu tầm được. Tôi đã theo đúng trình tự tập hợp của nhà nghiên cứu Đặng Văn Lung trong cuốn Quan họ - Nguồn gốc và quá trình phát triển (1978). Khi sưu tầm, nhà nghiên cứu rất khó tránh khỏi định kiến tiên thiên để hướng sự ghi chép của mình theo định kiến đó (cũng như khi đi chặt củi, có thể chọn loại có lợi và bỏ loại khác). Như ta đã biết, những xu hướng đọc của các tác giả đó sau này sẽ là phản bác cách giải thích quan họ họ nhà quan nên thành ra trước chúng ta, sưu tập này lại trở nên vô tư. Ta hãy xem xét một góc của nó.

Kí ức dân gian luôn bao hàm “thơ và mộng”. Từng kí ức cụ thể là của từng làng, nó bao gồm trong đó lòng tự hào, sự nâng niu, trách nhiệm bảo vệ và phát huy thành tựu tinh thần, chúng ta tiếp nhận với một thái độ trân trọng, một sự rung động tâm hồn như họ. Song, kí ức đó cũng chứa đầy những tưởng tượng, huyền ảo. Khi có một tập hợp phong phú, bằng cách quan sát số liệu, ta sẽ nhận ra cái “cốt lõi lịch sử” của nó.

Trong 17 quan niệm, truyền thuyết, giai thoại, câu ca trên, chúng ta dứt khoát bỏ mục 2 của GS Lê Văn Hảo vì không tin cậy được khi trích dẫn thư tịch, còn lại 16. Kể cả mục 1 mà tôi  đã cước chú là ghi chép lơ mơ nhầm cả ngày hội làng thì ta thấy 15 / 16 kí ức bản quán xuất hiện yếu tố quan (3-4-5-6-8-9 = 6 lần), chúa (7-11-14 = 3 lần), vua (10-12-13-15-16-17 = 6 lần). Chữ quan còn có nghĩa là những gì thuộc về công, thuộc về nhà nước (quan phương, quan lộ, quan đường, quan điền) vậy vua, chúa, quan đều thuộc về quan tình chứ không thuộc về dân tình. Một tỉ lệ hoàn toàn áp đảo. Trong đó xuất hiện nhiều lần giải thích hai chữ quan họ thì về chữ quan 100% là quan. Chữ họ có nghĩa là họ tộc xuất hiện 11 lần (3-4-5-6-8-9-12-13-14-16-17), chữ họ có nghĩa là dừng lại xuất hiện 4 lần (7-10-11-15). Như vậy, điều này nói lên rằng, trong kí ức dân gian, tục hát quan họ gắn rõ ràng với hát cửa quan và hai chữ quan họ nghiêng hẳn về nghĩa quan họ như các thư tịch cổ đã ghi lại và tôi đã trình bày trong bài Hai chữ quan họ trong thư tịch cổ. Nếu bài trước tôi giải quyết vấn đề sách cổ nói như thế nào thì bài này là nhân dân nói như thế nào về hai chữ quan họ và hát quan họ.

Một vấn đề là tại sao các nhóm nghiên cứu có uy tín trước đây như nhóm Lưu Hữu Phước, nhóm Đặng Văn Lung và một số nhà nghiên cứu khác là luôn luôn tìm cách chứng minh rằng hát Quan họ là không phải hát ở cửa quan dù kí ức bản quán là như vậy, hiển nhiên như vậy, dân vẫn còn dùng nghĩa của nó như vậy. Chúng tôi cho rằng, vào những thời điểm đó, người nghiên gặp những rào cản chưa thể vượt qua:

- Thứ nhất, một quan niệm cực đoan về dân ca trong sự đối lập tuyệt đối với âm nhạc cung đình khiến họ mang định kiến khi nghiên cứu.

- Thứ hai, lập trường thành phần trong thời kì đó vẫn nặng nề khiến người ta e ngại khi nói về quan, làm khuynh hướng nghiên cứu của họ bị thiên lệch. Hay nói cách khác, một tư tưởng dân túy cực đoan trong nghiên cứu.

- Thứ ba, tư liệu, đặc biệt tư liệu cổ tịch đã không có điều kiện như bây giờ khiến họ gặp khó khăn khi truy tìm ngữ nghĩa cội nguồn.

Chỉ với ba khó khăn trên cũng đủ làm lệch nghiêng những quy chiếu tiếp cận. Công lao nghiên cứu của họ về tổng thể là rất nhiều nhưng vẫn tồn tại một số bất cập cần bổ sung. Thật không khó khăn gì khi viết một bài phân tích những quanh co thiên lệch, những tư biện trong các công trình đó về vấn đề đang bàn. Tuy nhiên, chúng tôi muốn hướng nhiều hơn đến việc từ đó, tìm hiểu cội nguồn đích thực của hát Quan họ để hiểu rõ những giá trị của nó, đặc tính của nó, các bước vận động của nó, quá trình nhân dân vươn lên chiếm lĩnh nghệ thuật để tạo nên một hệ thống dân ca đặc sắc, sự thăng trầm rồi thăng hoa của nó trong thời đại chúng ta, thời đại Hồ Chí Minh.

Hẹn gặp độc giả trong những bài viết tiếp tục theo hướng có ích hơn này.

Hà Nội ngày 22 / 5 / 2010

 Bài viết đăng lần đầu tiên trên Website Khoa Văn học, đề nghị ghi rõ nguồn khi trích dẫn.

 

fShare
0
Top