Bia phục dựng đình An Thường

Làng và nước gắn bó với nhau. Ngôi đình làng là trung tâm văn hóa, tín ngưỡng của làng; là cầu nối giữa làng và nước, giữa cá thể và cộng đồng, giữa truyền thống và hiện tại trên con đường hướng đến tương lai. Trong tâm khảm mọi người, ngôi đình gắn kết họ hàng làng nước. Ở gần ta thành kính, đi xa ta nhớ về.

Làng An Thường ta, vốn được khai cơ từ 1471, thời vua Lê Thánh Tông mở cõi phương Nam, trên một vùng trung châu trù phú, lúc đó vốn tên An Long thuộc phường An Lâm, xã Ô Liêm, huyện Bồng Sơn. Năm 1602, Chúa thượng Nguyễn Hoàng đổi An Long thành An Thượng thuộc phủ Quy Nhơn. Năm 1802, Vua Gia long đổi thành An Thường thuộc tỉnh Bình Định. Năm 1946, nâng thôn An Thường thành xã. Năm 1948, nhập cùng xã Ái Hữu thành xã Ân Thạnh. Tháng 4 năm 1999, chia thôn An Thường thành An Thường 1 và An Thường 2, là 2 thôn trong 6 thôn của xã Ân Thạnh.

Năm 1846, làng có cụ Trần Văn Thiều đậu Cử nhân giữ đến chức Tham tri Lại bộ dưới triều vua Tự Đức (1848 – 1883) và tương truyền, đình An Thường được tạo dựng vào thời kỳ này. Theo truyền thống, hàng năm nhân dân tổ chức Xuân tế vào ngày 10 – 3 âm lịch để cúng rước sắc phong thần và Thu tế vào tháng 7 mở hội diễn Hát bội, hô Bài chòi... hân hoan vui vẻ, thắm tình xóm làng, nồng nghĩa thập phương. Năm 1947, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, đình được dỡ đi. Sau 1975, dân làng ta dù khó khăn vẫn góp công sức chụm lại trên nền cũ, Xuân Thu nhị kỳ hương khói phụng thờ, giữ gìn truyền thống cha ông.

Lâu ngày, việc tu cái đã mòn, bổ cái đã cũ vẫn được nhân dân kỳ vọng. Gần đây, cùng chung ý nguyện với bà con, với tấm lòng uống nước nhớ nguồn, ông Trần Bắc Hà, là con trai út của Liệt sĩ Trần Đình Châu, đã cùng con cháu liệt sĩ cũng như bạn bè bằng hữu đứng ra hưng công phục dựng đình An Thường trên nền cố cựu, khởi công vào ngày Giỗ tổ Hùng Vương 10 tháng 3 năm Tân Mão (2011) và kịp khánh thành vào 42 năm ngày giỗ Liệt sĩ Trần Đình Châu (13/8/1969 – 13/8/2011).

Vẫn biết, người có chút của không bằng người có công; làm nên đã khó nhưng giữ gìn chăm chút càng khó hơn. Tấm lòng với tiền nhân, với quê hương bản quán thì luôn luôn được ghi nhận theo phong tục ngàn đời. Nay đình mới đã xong, viết bia này ghi lại sự việc.

Minh rằng: Thôn vốn khai cơ. Đình danh cổ tích.An Thường thôn xưa, Yên vui lòng ước, Uống nước nhớ nguồn. Tấm lòng thành thật. Góp của góp công. Nhờ làng nhờ nước. Có như ngày nay. Không quên người trước. Đình lại khang trang. Sở cầu tất đắc. An lạc khang ninh.

Văn bia này được sự đồng thuận của chính quyền, nhân dân và các bô lão bản xã.

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm thứ 66.

 

 

VĂN TẾ KHÁNH THÀNH ĐÌNH AN THƯỜNG.

Nhân có vận, đất có tuần, điều ân đức thấm nhuần vạn thế.

Trọng vì làng, sang vì nước, chữ thuận hòa gội khắp muôn nơi.(Điểm 1 tiếng trống/chiêng)

Quê ta xưa.

Hoàng đế Lê triều, Thánh tông thụy, Hồng Đức nhị niên, về nam phương mở đất.

An Long thôn cổ, Bồng Sơn huyện, Hoài Nhơn nhất phủ, theo địa thế đặt tên.

Một vùng phồn địa chứa chan.

Hai mạch bắc nam tụ hội.(Điểm 1 tiếng trống/chiêng)

Sông Kim Sơn nam vòng đông bắc, như ôm như ấp, như tay mẹ nâng niu.

Dòng An Lão bắc hướng tây nam, tựa đắp tựa bồi, tựa nguồn trời tưới gội.

Tây núi non lũ lượt chầu về,

Đông bình phong nguy nga giữ cõi.

Trải Nguyễn triều danh cải An Thường, ước nguyện bình yên vĩnh thế.

Theo thời gian danh hương đã định, hằng tâm giữ mãi muôn đời.(Dạo 1 hồi trống chiêng)

Thiên thời địa lợi nhân hòa, vun vén đắp bồi, tiên liệt lao tâm khổ tứ.

Đất cũ làng xưa đình dựng, chăm lo tôn tạo, hậu sinh tận lực hưng công. (Điểm 1 tiếng trống/chiêng)

Nhớ đình xưa, lưu niên tứ tự chưng thường, nghiêm cơ ngũ, rước sắc thần, bản xã khói hương bất tuyệt.

Nghĩ quê cũ, Xuân Thu nhị kỳ lễ hội, hô bài chòi, trình hát bội, thập phương giao đãi hân hoan.

Thật là mỹ tục một phương.

Cũng thể thuần phong muôn mối.(Dạo 1 hồi trống chiêng)

Đất cũng như người, khi vận nước gieo neo, cứu quốc quyên sinh là nghĩa cả.

Đình cùng với miếu, lúc giang sơn hoạn nạn, kháng thù tiêu thổ ấy công cao.

Đất nước đã thanh bình, uống nước nhớ nguồn, nền cũ đình nay phục dựng.

Nhân dân cùng đồng thuận, tiếp xưa nối mới, công nhiều của ít làm nên.(Dạo 1 hồi trống chiêng).

Đình nay đã khánh thành.

Tựa núi nhìn sông, đông nam đón mặt trời chói lọi.

Cao thềm vững cột, trong ngoài trông diềm mái phong quang.

Đao cong đón gió, mát lòng phụ lão ấu thơ.

Nóc phẳng đợi trăng, đẹp nghĩa nam thanh nữ tú.(Dạo 1 hồi trống chiêng)

Kẻ có của, người có công, cũng bởi chữ TÂM mà ra cả.

Nay nén hương, mai chén nước, là nhờ đạo KÍNH được như vầy.

Lễ mọn lòng thành, kính cáo cùng sơn thánh địa kì, tiên hiền tiên liệt, anh hùng liệt sĩ vì nước vì dân.

Có được ngôi đình lại khang trang như hôm nay, là nhờ:

-Nhân dân bản xã đồng thuận một lòng góp công góp sức.(Điểm 1 tiếng trống/chiêng)

-Chính quyền ra chủ trương gìn giữ khôi phục văn hóa truyền thống vì hiện tại và tương lai.(Điểm 1 tiếng trống/chiêng)

-Lại được sự thành tâm công đức của:

(Ở đây, đọc tên những người công đức để kính cáo cùng thần linh, tiên hiền, tiên liệt...).

Xin các vị thánh thần, tiên liệt, tiên hiền, anh hùng liệt sĩ anh linh chứng giám và lai hưởng lòng thành.

Kính cáo. Kính cáo.(Dạo 3 hồi trống chiêng kết thúc).

Chú thích:

-Hồng Đức nhị niên: năm 1471.

-Phồn địa: đất phồn vinh.

-Lưu niên: năm lại năm.

-Tứ tự chưng thường: Bốn mùa cúng tế. Chưng là cúng dịp xuân, thường là cúng mùa thu. Sau đó, nghĩa chưng thường mở rộng là cúng tế. Đây là cụm từ quen thuộc để cúng tế thần linh.

Hà Nội 18-8-2011.

Nguyễn Hùng Vĩ.

Top