Nghiên cứu khoa học

"CHẶT/TRẶT như NÊM"... và..."CHẬT như NEN"

“CHẶT/TRẶT như NÊM”… và… “CHẬT như NEN”.

 

Nguyễn Hùng Vĩ

 

Một trong những tranh luận về chữ nghĩa trong Truyện Kiều và hiện nay khó bề thống nhất đó là chữ NÊM hay NEN trong hai câu sau đây:

Câu 48: Ngựa xe như nước, áo quần như nen/nêm

Câu 988: Trong nhà người chật một lần như nen/nêm.

Mục đích bài viết này của tôi là đưa ra một ý kiến nghiêng về cách đọc, cách ghi quốc ngữ là NEN, không là NÊM. Cách thức làm việc là khảo cứu qua phương ngữ Nghệ Tĩnh, qua tài liệu từ điển cổ, qua các văn bản chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, qua các cách lí giải của một số người đi trước và qua việc tìm lai nguyên cho các chữ này từ nguồn gốc Hán Việt cổ.

1. Sự phân biệt nghĩa của CHẶT/TRẶT và CHẬT.

 Chúng tôi chọn cách bắt đầu từ thành ngữ dân gian.

 Trong phương ngữ Nghệ Tĩnh có phân biệt âm và nghĩa giữa chặttrặt, giữa chậttrật. Nói phân biệt cả âm và nghĩa có nghĩa là, ở cả hai phương diện đó, khi nói và khi viết, người ta tuyệt đối không được có sự lẫn lộn.

 TRẶT: Chỉ một trạng thái tập trung các yếu tố, các thành phần trong một không gian tối thiểu đến mức các thành phần đó dường như kết làm một, không thể hoặc khó lòng tách rời nhau.

 Nó khác với CHẶT với tư cách là một động từ chỉ động tác dùng một vật thể mỏng tác động phần công năng vào một vật thể khác làm cho vật thể này bị thương tổn, đứt gãy.

 CHẬT: Chỉ một trạng thái tập trung các yếu tố, các thành phần trong một không gian nhỏ hẹp nhưng chưa tới mức kết chặt/trặt làm một không thể tách rời, mà vẫn có độ lỏng lẻo nhất định.

 TRẬT: Ngược nghĩa với trúng, đúng, chính xác.

 Ngoài một số đồng âm hoặc nghĩa phái sinh không quan trọng thì những điều tôi trình bày trên đây, người bản ngữ có thể đồng cảm, nhất trí. Điều này thể hiện trong hai cuốn từ điển tiếng Nghệ Tĩnh mà tôi đang sử dụng (của Trần Hữu Thung – Thái Kim Đỉnh 1998 và của Nguyễn Ngọc Lập – Nguyễn Thúy Nga 2013).

 Như vậy, sự giao thoa và sự phân nghĩa giữa CHẶT/TRẶT và CHẬT là rõ ràng trong nghĩa gốc giữa chúng.

+Sự giao thoa: Đều chỉ trạng thái tập trung các yếu tố thành phần trong một không gian nhỏ hẹp.

+Sự phân nghĩa: Một bên mật độ cực cao, không hoặc khó tách biệt, một bên là mật độ không nhất thiết quá cao, có độ lỏng và có thể dễ dàng tách biệt.

 CHÊM và NÊM.

 Tiếng Nghệ Tĩnh có sự phân biệt tế nhị giữa chêmnêm.

 Những người thạo bản ngữ có thể chứng thực điều này. Trong nói năng, cách thường dùng của người dân thì chêm là một động từ còn nêm là một danh từ. Người ta thường nói: “lấy cái nêm mà chêm”, “đưa cho bố cái nêm để chêm vào”… Tất nhiên là, với sự chuyển đổi công năng thường thấy, cũng có người nói lẫn danh từ và động từ. Đó là một điều thường tình của hiện thực ngôn ngữ. Điều này, không phủ định sự phân biệt đã nói ở trên.

 Với những điều đã nói ở trên, có thể hiểu rằng, nếu khi hiểu NÊM như một động từ, thì trong tính chặt chẽ nguyên khai, người ta sẽ nói NÊM CHO TRẶT/ CHẶT chứ sẽ không nói NÊM CHO CHẬT.

2. Theo dõi các từ điển cổ, chúng ta được kết quả như sau:

 -1651, Từ điển Việt – Bồ - La của Alexandre de Rhodes:

CHẠT: Nơi chật hẹp. Đã chạt: Nơi ấy đầy ứ.

CHẠT, BUẬC CHO CHẠT. (Chữ này có khi ghi là CHỆT trong mục CHỘI).

CHÊM: Đóng thêm vào cho chắc.

NÊM: Cái nêm, cái chêm, cái chốt (theo cách dịch nghĩa của nhóm phiên dịch Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính).

BLẠT với nghĩa là TRẬT (không trúng).

NEN: Chữ này không ghi.

 -1773. Tự vị Annam Latinh của Pierre Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu):

CHẶT: Cắt đi, chắc. Chặt chịa: rất chặt. Chặt quách; Cắt ngay đi (lời nguyền rủa). Kẻ chặt dạ: Người bủn xỉn. Buộc chặt: Bó chắc.

CHẬT: Hẹp. Chật chội: Cn. Chật hẹp: Cn.

CHÊM: Đóng chốt. Chêm củi: bổ củi bằng cái chốt.

NÊM: Chốt. Đóng nêm: Đóng chốt. Chặt như nêm: Rất chặt (về ngữ liệu này, chú ý: cụ Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên trong bản dịch nhìn nhầm nên ghi là “CHẬT như nêm” trong công trình của mình. Chúng tôi đã xem lại rất kĩ bản chụp chép tay và bản in chụp 2001 của Pháp, đó là chữ CHẶT).

NEN: Từ điển không ghi chữ này.

 Ghi chú: Chúng tôi đặc biệt chú ý đến hai cuốn từ điển này vì nó được làm ra trước khi Nguyễn Du viết Truyện Kiều, nó phản ánh một số cơ tầng tiếng Việt cổ trước đó.

 Trong các ngữ liệu trên, ta thấy: Có sự phân biệt CHẶT và CHẬT như chúng tôi nói ở phương ngữ Nghệ Tĩnh. Có sự phân biêt CHÊM và NÊM về từ loại như tiếng Nghệ Tĩnh. Xuất hiện việc ghi ngữ liệu CHẶT NHƯ NÊM, chưa xuất hiện ngữ liệu CHẬT NHƯ NÊM.

3. 1838, Từ điển Nam Việt Dương Hiệp tự vị (Dictionnarium Anamitico – Latinum) của J. L. Taberd.

CHẬT: Với các ngữ liệu: Chật chội, Chật hẹp, Trí bẩn chật, Nhà bẩn chật.

CHẶT: Với các ngữ liệu: Chặt chịa, Chặt quách, Kẻ chặt dạ, Kẻ chặt chịa.

CHÊM: Với ngữ liệu: Chêm củi.

NÊM: (tự dạng chữ Nôm là Mộc+Nam). Với các ngữ liệu: Đóng nêm, Chặt như nêm.

NEN: Không ghi chữ này.

 -1895-1896, Từ điển Đại Nam quấc âm tự vị của Huình – Tịnh Paulus Của:

CHẬT: n. Hẹp hòi, không hở khoản; lúng túng.

 Với các ngữ liệu như Chật hẹp, Chật chội, Chật bó, Chật cứng, Chật nhà, Bẩn chật, Trí bẩn chật, Nhà bẩn chật, Chật vật.

CHẶT: n. Dụng rìu, rựa mà sả ra; gắt gỏng, bón bang; bền giữ; khô táo.

 Ngoài các ngữ liệu với nghĩa động từ chặt chém thì có các ngữ liệu: Chặt chịa, Chặt cứng, Chặt dạ, Gắt chặt, Bóp chặt, Cầm chặt, Giữ chặt, Bền chặt

CHÊM: n. Nêm thêm, Tra thêm, làm cho chặt; Gia thêm; Cái nêm, Cái chốt.

 Với các ngữ liệu: Chêm chỗ hở (nêm thêm, tra thêm, làm cho hết hở), Chêm cây (dùng cây mà nêm thêm, tra thêm, dùng cách ấy cho dễ bửa củi),…Đồ chêm (đồ để mà tra thêm). (Với mục này, chúng tôi chỉ trích ra những ngữ liệu liên quan đến vấn đề đang bàn, các ngữ liệu khác không cần thiết).

NÊM: n. Đồ dùng mà chêm mà đóng thêm cho chặt; tra đồ chêm ấy. Chêm chốt: Kể chung cả hai thứ đồ tra thêm cho chặt; tra chốt. Đóng nêm: Đóng cây nêm, tra cây nêm. Chặt như nêm: Chặt cứng. Chật như nêm: Chật cứng (người ta đông lắm). Nêm tống: Nêm lớn chịu lấy hai đầu xuyên: nêm dài để mà đóng cho nống vật khác.

Tự dạng: Mộc+Nam.

NEN: Chữ này không có.

 -1898, Từ điển Dictionnaire Vietnammien – Francais (Việt Pháp từ điển) của J. F. M. Génibrel:

CHẬT: Với các ngữ liệu: Chật chội, Chật hẹp, Người chật như nêm, Ngựa xe đầy rẫy quan quân chật đàng, Vác đòng chật đất, sanh kỳ đầy sân, Trí bẩn chật, Nhà bẩn chật, Chật bó, Chật vật.

CHẶT: Với các ngữ liệu liên quan đến vấn đề chúng ta đang quan tâm: Buộc chặt, Chặt chịa, Đánh chặt, Người chặt chịa chặt dạ, Kẻ chặt chịa, Kẻ chặt dạ, Chặt chẽ, Chặt khang khang, Chặt lăng lắc, Chặt như lèn, Chặt như nêm, Chặt như cối, Chặt bụng.

CHÊM: Với các ngữ liệu liên quan: Chêm củi, Đóng chêm, Chêm vào, Làm chêm

NÊM: Với các ngữ liệu liên quan: Đóng nêm, Chặt như nêm, Xe ngựa như nêm, Một lòng quân khảo như nêm, Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

NEN: Chữ này có, được viết bằng Mộc+Niên và giải nghĩa (T), Presser pour mettre dans, Nen vào, id. Chật như nen, serré comme dans on étau, Fig: Plein comme on oeuf. (Lèn vào trong khuôn… chật như trong mỏ cặp ê tô. Còn như: Đầy như một quả trứng)

 Ghi chú: Chúng tôi kết thúc ở thời điểm 1898 với từ điển này, đây là những từ điển sau khi Nguyễn Du viết Truyện Kiều cho đến trước thế kỉ XX.

 Với các từ điển vừa nói, chúng ta có những nhận xét như sau ở những chữ liên quan:

+Với 1838, ta thấy Taberd tiếp thu các từ điển trước đó của De Rhodes 1651 và đặc biệt là của Bá Đa Lộc 1773. Ở ông, vẫn chưa xuất hiện ngữ liệu CHẬT NHƯ NÊM. Cũng thời kỳ này, chúng ta chưa phát hiện được một bản Kiều Nôm nào để đối ứng.

+Với 1895 – 1896, ta thấy ở Huình - Tịnh Paulus Của, lần đầu tiên, ngữ liệu CHẬT NHƯ NÊM xuất hiện bên cạnh CHẶT NHƯ NÊM. Điều này là rất đáng quan tâm.

+Với 1898, ta thấy ở Génibrel, xuất hiện những ngữ liệu đáng lưu ý: Người chật như nêm, Chặt như nêm, Xe ngựa như nêm, Một lòng quân khảo như nêm. Điều đáng chú ý là ở đây xuất hiện NEN với ngữ liệu Chật như nen. Đây là yếu tố mới xuất hiện qua ghi chép quốc ngữ.

 Ta thấy rằng, khi đọc từ điển này, tác giả dùng rất nhiều ngữ liệu của các truyện Nôm. Ví như, với ngữ liệu Một lòng quân khảo như nêm thì rõ là lấy ở truyên Nôm Nhị độ mai. Với bản chữ Nôm mà chúng tôi có trong tay, câu đó là Một vòng quân khảo như NEN (sẽ nói sau). Không biết Génibren sử dụng bản Nôm nào nhưng lúc này các bản Kiều Nôm và quốc ngữ đã rất nhiều và cách phiên đã có rất nhiều dị bản, ông có thể tham khảo hoặc dựa vào ngữ liệu của một cộng tác viên nào đó.

4. Từ mục 2. và 3., nhìn ngữ liệu theo thời gian, chúng ta có thể có những nhận xét như sau:

 +CHẶT và CHẬT có sự phân biệt sắc thái nghĩa ở mức độ bền chặt của trạng thái tập hợp, điều này là xuyên suốt. Tuy nhiên, vì tính chất là cùng chỉ sự tích tụ các yếu tố, các thành phần, mà trong diễn tiến thời gian, sự giao thoa hay nhòe nghĩa giữa chúng càng ngày càng thể hiện (ngôn ngữ học gọi đây là sự lây nghĩa, nhiễm nghĩa), đặc biệt ở thời điểm sau khi Nguyễn Du viết Truyện Kiều. Ít nhất trên từ điển cho ta thấy hiển nhiên như vậy.

 +CHÊM vốn là động từ. NÊM vốn là danh từ. Trước khi Nguyễn Du viết Kiều, điều này thể hiện rất rõ. Sau đó, qua các từ điển, chúng ta cũng thấy được có sự chuyển đổi từ loại diễn ra ngày càng rõ ràng hơn. Tuy nhiên sự phân biệt nghĩa vẫn là cơ bản.

 Trước khi Nguyễn Du viết Truyện Kiều, tài liệu chưa từng xuất hiện ghi chép CHẬT NHƯ NÊM, mà chỉ xuất hiện CHẶT NHƯ NÊM. Các từ điển về sau mới ghi lại cách nói CHẬT NHƯ NÊM.

 +Theo thời gian, ta dường như thấy có sự vận động vừa tương tác vừa cạnh tranh của hai thành ngữ (có thể nói như vậy) là CHẬT NHƯ NEN và CHẶT NHƯ NÊM. Trong thực tiễn vận động này, NEN dần dần rơi vào tình trạng yếu thế và NÊM ngày càng ở thế thượng phong (điều này càng rõ hơn ở các mục sau khi đối chiếu tài liệu chữ Nôm).

 Sự yếu thế của NEN vừa tại chính nó nhưng cũng vừa tại yếu tố khác tham gia cấu trúc thành ngữ mang lại.

 Trước hết là sự giao thoa của CHẶT và CHẬT trên cả 3 phương diện: ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Về ngữ âm, rõ ràng sự gần gụi giữa chúng gia tăng khi TRẶT bị thua CHẶT về độ tiết kiệm động tác phát âm (cong lưỡi và không cong lưỡi); về ngữ nghĩa, cái nghĩa chính là trạng thái tập trung yếu tố vật thể trong nói năng, sẵn sàng làm nảy sinh cách nói quá, nói khoa trương, nói cực đoan nhằm tạo ấn tượng mạnh cho thông điệp là cách ta vẫn thấy: tương tự cách nói CHẬT CỨNG mà ta thấy đã xuất hiện bên cạnh CHẶT CỨNG.

 Về bản thân NEN, với tư cách là một động từ chỉ hành động và trạng thái, rõ ràng với ngữ nghĩa đó, nó thua NÊM trong các phát ngôn so sánh. Dẫu sao NÊM, với tư cách danh từ như ta đã thấy, là cái cụ thể hơn, thường gặp hơn trong một môi trường nông nghiệp, thủ công. Trong các thành ngữ cấu trúc so sánh (qua “như”), vế sau thường giải nghĩa, cụ thể hóa cho vế trước (Ví dụ: Béo như lợn, Xanh như tàu lá, Nhát như cáy, Run như cầy sấy…), chuyện này thì NÊM sung sức hơn hẳn NEN; về ngữ âm thì giữa hai bên mà chỉ có mỗi sự khác nhau của chung âm N,M tất sẽ không cứu được sự thất thế của NEN.

CHẬT NHƯ NÊM ngày càng có cơ hội đẩy CHẬT NHƯ NEN vào gầm chạn của cái gọi là cổ ngữ. Có sự lên ngôi của cái này và sự ẩn dật của cái khác ở đây. Và chính ở đây nó đã tạo ra sự bất đồng cách ghi cách hiểu trong hơn thế kỉ qua của hậu thế mang mắt kính đương thời.

 Vậy liệu Nguyễn Du có khả năng sử dụng cách nói nào?. Điều sau đây chứng thực nhận định vừa nêu trên.

5. Từ một số bản Kiều Nôm và Quốc ngữ gắn với chuyện NEN hay NÊM:

 Công việc này của chúng tôi được thuận lợi lớn từ việc điều tra của ông Nguyễn Khắc Bảo trong cuốn sách của tác giả này Tìm đến nguyên tác Truyện Kiều, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội – 2004. Dù ông, cũng trên tư liệu này mà có kết luận ngược lại. Thiết tưởng công việc tỉ mỉ này không cần phải rà nữa. Chúng tôi dựa vào kết quả bảng đối chiếu ở trang 188 về sự xuất hiện chữ NEN (Niên biểu âm, Mộc hoặc Tài gẩy hoặc Vương gợi nghĩa), chữ NÊM ( Nam biểu âm, Mộc hoặc Tài gẩy gợi ý, hoặc Niêm ghi âm) về các trường hợp này trong hai câu Truyện Kiều 48 và 988 ở 21 bản Nôm và 24 bản Quốc ngữ.

 Theo đó ta thấy ở các bản Nôm, câu 48, dùng Niên biểu âm xuất hiện 15/21 bản. Dùng Nam biểu âm xuất hiện 6/21 bản. Dùng Niêm biểu âm xuất hiện 1/ 21 bản. Câu 988, dùng Niên biểu âm 19/21 bản. Dùng Nam biểu âm xuất hiện 1/21 bản. Dùng Niêm biểu âm xuất hiện 1/21 bản.

 Ở trên các bản quốc ngữ, ta thấy cách ghi NEN xuất hiện, câu 48 là 11/24 bản. cách ghi NÊM là 13/24 bản. Câu 988, cách ghi NEN là 6/24 bản, cách ghi NÊM là 17/24 bản. Cách ghi LEN là 1/24 bản.

 Trên sự tổng hợp đó, bây giờ chúng ta xét câu 988 trước vì ở câu này xuất hiện CHẬT đi với X (tạm coi X là cách biểu âm), đó là câu:

 Trong nhà người chật một lần như X:

 +Ta có ở các bản Nôm, trường hợp này X biểu âm là Niên chiếm tỉ lệ áp đảo: 19/2 (= 21)

 +Ta có ở các bản Quốc ngữ, cách ghi NÊM so với NEN lại có tình thế khác: 17/6 (+ 1 LEN = 24).

 Với một tỉ lệ hoàn toàn áp đảo (19 bản trên 21 bản)của biểu âm NIÊN ở các bản Nôm, trong trường hợp caao 988 này, cho ta kết luận: vì trong câu có chữ CHẬT hiện diện nên các cụ hiểu rõ phải đọc nó là NEN như thành ngữ vốn có là CHẬT NHƯ NEN, sự nhầm lẫn ít xảy ra.

 Ở đây, khẳng định sẽ là, các bản Nôm, vốn gần với thời gian và kí tự viết Truyện Kiều hơn, biểu âm NIÊN càng chiếm ưu thế. Các bản quốc ngữ vốn xa thời gian và kí tự viết Truyện Kiều hơn, cách ghi NÊM chiếm ưu thế.

 So với việc khảo sát về CHẶT NHƯ NÊM và CHẬT NHƯ NÊM ở các từ điển đã khảo ở trên thì chúng ta thấy rằng, CHẬT NHƯ NÊM là cách nói muộn trong cuộc sống, xa dần với thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều.

 Vậy, với thời Nguyễn Du, liệu chữ này với biểu âm NIÊN có sẽ có âm đọc là NEN?!.

 Quay lại câu 48, Ngựa xe như nước áo quần như X, ta nhận được vẫn là sự áp đảo của Niên (15/21, trong lúc đó biểu âm Nam như đã nói là 6/21 và Niêm là 1/21). Kết luận vẫn không thể thay đổi, nhưng sự gia tăng biểu âm Nam sẽ là do cái nghĩa đông chật ở câu 48 không rõ bằng câu 988 (vốn trong câu có rõ chữ CHẬT).

6. Các tiền lệ khác trong sự đối ứng với nghĩa.

 Trước hết ta thấy chữ này xuất hiện sớm trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Đó là câu:

 Chim đỗ tổ nhìn còn thấy mặt

 Hoa ( Niên) rừng thấy họa hay danh.

 Chữ ấy ở đây không thể đọc là NÊM.

 Nguyễn Trãi sáng tác ở thế kỉ XV, văn bản còn lại với chúng ta là bản in do Dương Bá Cung làm bản thảo qua công lao sưu tầm, được Phúc Khê tàng bản in năm 1868. Với phong cách làm việc cẩn trọng như ta thấy trong Quốc âm thi tập, cùng với sự nệ cổ của các cụ xưa khiến ta tin ở con chữ này đã xuất hiện từ sớm.

 Chúng ta có thể đọc NEN?!

 Bản Nhị độ mai chúng tôi sưu tầm có câu:

 Một vòng quân khảo như (Tài gẩy+Niên)

 Không thể “một vòng quân khảo” mà lại phiên NÊM được. Đọc NEN?!

 Bây giờ so với câu 48 trong Truyện Kiều: Ngựa xe như nước áo quần như (Niên – biểu âm), và câu 988 Trong ngoài nhà chật một lần như (Niên biểu âm), chúng ta thấy 4 ví dụ trên về mặt ý nghĩa có những điều tương tự:

 Nói về một tập hợp người đông chật: 3 trường hợp.

 Nói về tập hợp hoa được nhìn từ một lớp học trống bốn vách (Quốc âm thi tập).

 Tất cả tập hợp đó đều không thể là một tập hợp CHẶT mà là chỉ tập hợp CHẬT mà thôi. Có nghĩa là nó không thể đến mức không tách rời được. Vậy nó không thể là NÊM được mà chỉ có thể như một cách hình dung nào đó để chỉ trạng thái mà ta cứ tạm đọc là NEN. Tiếp tục.

7. Lai nguyên của NEN và ý nghĩa.

 Từ điển Truyện Kiều (in lần thứ nhất 1974) của Đào Duy Anh đọc hai câu 48 và 988 trong Truyện Kiều là NEN và giải thích: Từ xưa, tức là len, chen, chen chúc. Vd. Như nen, 48; 988 – II Như nen (2): Chật ních như người ta chen chúc nhau. Vd Ngựa xe như nước áo quần như nen, 48; Trong nhà người chật một lần như nen, 988 – Áo quần như nen, 48: (Nhiều bản quốc ngữ phiên là áo quần như nêm, các bản nôm đều chép nen. Nen mới hợp vần).

 Khi in lại lần thứ hai, GS Phan Ngọc, với sự ủy nhiệm của GS Đào Duy Anh mà bổ sung, giải thích thêm: “Chật ních. Nen Khơ me là chặt cứng. Gén: dùng sức để nén vào; chật như nen được giảng là chật cứng”.

 GS Đào Duy Anh chỉ cho là “từ xưa” (với nghĩa cổ tự). GS Phan Ngọc cho rằng lai nguyên của NEN là có nguồn gốc Khơ me.

 Chúng tôi không nghĩ như vậy bởi thứ nhất Khơ me là cơ tầng ngôn ngữ rất xa xôi với tiếng Việt (tính theo thời gian và phần trăm gốc gác từ vựng Truyện Kiều), đồng thời khó kiểm chứng. Chúng tôi chọn con đường gần hơn và thiết thực hơn nhiều.

 Hán Việt từ điển trích dẫn cho ta một chữ NIÊN với nghĩa rất đáng chú ý:

 NIÊN (Tài gẩy+nhiên): niên, niễn, nhiên. 1. (Động) Kẹp, cặp… 2. (Động) Cầm nắm… 3. (Động) Vuốt, xoa nhẹ bằng ngón tay. 4. (Động) Giẫm, đạp, xéo… 5.(Động) Xua, đuổi… 6. (Động) Nắn đàn… 7. # Ghi chú: Cũng đọc là niễn. Ta quen đọc là nhiên.

 Từ mục từ này, ta có thể thấy, khi đọc với âm Niễn, chuyển sang tiếng Việt cổ ta được chữ Nắn với hai nghĩa còn lưu: nắn đàn, một động tác của kĩ thuật nhấn vuốt tạo nét thêu thùa hoa mĩ cho tiếng đàn, đồng thời nắn rất gần nghĩa với nghĩa 3. Vuốt, xoa nhẹ bằng ngón tay. Vả lại âm nắn phát lộ cho ta âm a ngắn là phần chính âm của tiếng đó, gần gụi về âm vị với e. Một chữ Niển khác cho ta chữ Nặn trong tiếng Việt.

 Các nghĩa còn lại giúp ta liên tưởng đến thứ nhất: Động tác của tay người dùng để nhóm họp một đối tượng nhiều yếu tố, nhiều thành phần thành một tập hợp (nghĩa 1. và nghĩa 2.) Thứ hai, ở nghĩa 3. và nghĩa 4., là chỉ một trạng thái tập trung đông người có thể giẫm đạp xéo lên nhau, xua, đuổi nhau.

 Với âm đọc Hán Việt là nhiên chúng ta có thể liên tưởng đến động tác hay trạng thái nhăn (phát lộ chính âm a ngắn, gần với e về âm vị học): mặt phẳng bị dồn lại, tập trung lại có nếp gấp hoặc dồn. Ở chữ nhiên khác (không có Tài gẩy) với nghĩa là châm lửa, đốt lửa thì rõ ràng là chuyển sang tiếng Việt là nhen (âm chính e).

 Vậy niên hoàn toàn có thể có âm Việt cổ là NEN. Nghĩa động từ của nó chỉ động thái tập hợp đông người, chật chội.

 Vậy, các chữ này ở cả ba âm đọc Hán Việt đều được chuyển sang tiếng Việt: Niễn/Niển => Nắn / Nặn/ Nẹn/ Nén… ; Nhiên => Nhăn / Nhen… ; Niên => Nen / Niền/ Năn (?)...

 Về ngữ âm là hoàn toàn đúng đắn, về ngữ nghĩa nó nằm trong một trường ngữ nghĩa mà sự liên thông là có thể liên tưởng dễ dàng.

 Điều này đưa đến khẳng định: Lai nguyên của NEN chính là chữ NIÊN đó. Không cần phải liên hệ quá xa xôi đến nguồn gốc Khơ me như đề xuất của GS Phan Ngọc, người thầy đáng kính của tôi.

 Vậy tại sao, người xưa không dùng luôn nguyên chữ Hán cổ mà phải mượn biểu âm chữ Niên với nghĩa là Năm. Câu trả lời là cách tạo chữ ghi âm kiểu này rất thường thấy không những trong cấu tạo chữ Nôm mà còn trong cả chính chữ Hán cổ, cái mà các cụ xưa gọi đó là phép giả tá.

 Đến đây, khi đã biết lai nguyên của nó về âm cũng như về nghĩa thì chúng ta thấy rằng, mọi giải nghĩa chữ NEN là cây nen (cây dó dại), cỏ nen, con năn ( nen,châu chấu)… mà các tác giả đây đó từ sách Truyện Kiều chú giải của Cụ Lê Văn Hòe (1952) đến thời gian gần đây trở nên không cần thiết nữa.

8. Vấn đề cuối cùng: đối và tiểu đối.

 Có rất nhiều ý kiến nói rằng trong tình thế đối (với Truyện Kiều, câu Ngựa xe như nước, áo quần như nen rơi vào cấu trúc tiểu đối) thì bắt buộc chữ NEN phải là danh từ mới đúng. Đằng này, chữ đó thường viết với bộ Tài gẩy chứng tỏ nó là động từ cho nên vi phạm luật đối về từ loại. Có câu nệ quá chăng? Vì sự câu nệ này, nhiều người cố gắng đi tìm một nghĩa danh từ cho NEN, hoặc dùng bao biện cho NÊM (danh từ).

 Điều này, phải nói trước là, trong chữ Hán và chữ Nôm, không phải bất cứ chữ nào hễ có bộ Tài gẩy cũng nhất thiết phải là động từ. Thực tế văn bản phong phú hơn ta tưởng rất nhiều.

 Thực ra, luật đối không yêu cầu bắt buộc đến như vậy. Yêu cầu đối trong văn thơ xưa, theo GS Dương Quảng Hàm, cơ bản là hư tự đối với hư tự, thực tự đối với thực tự.

 Tuy nhiên, càng chặt chẽ mà chất lượng nghệ thuật cao thì còn gì bằng. Song, trên thực tế văn chương thì kĩ năng đối phong phú hơn nhiều lần.

 Những người quen đọc cổ thi của thiên gia thi thì không khó khăn gì bắt bẻ các thi hào xưa bởi những cái tựa hồ như bất đối của họ.

 Nguyễn Du là bậc thầy trong tiểu đối. Tuy nhiên, ngòi bút của cụ nhuần nhị hơn nhiều những tưởng tượng câu nệ của chúng ta.

 Không đâu xa cả, chỉ cần đọc vài ba trăm câu Truyện Kiều là chúng ta trích ra được những ví dụ phóng khoáng mà nếu cứ chẻ ra chặt chẽ thì tưởng như vi phạm luật đối:

+Câu 104: Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.

+Câu 136: Lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng.

+Câu 150: Văn chương nết đất, thông minh tính trời.

+Câu 168: Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo.

+Câu 176: Giọt sương gieo nặng, cành xuân la đà.

+Câu 238: Chưa xong điều nghĩ, đã dào mạch Tương.

+Câu 322: Kẻ nhìn mặt, người e cúi đầu.

+Câu 332: Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong…

 Nếu đọc cả hơn ba ngàn câu thơ Truyện Kiều chắc sẽ thấy rằng, nghệ thuật đối của cụ thuần thục nên biến hóa khôn lường mà sự chuẩn đối chỉ là một nền tảng cho sự sáng tạo mà thôi. Các thi nhân xưa khâm phục Nguyễn Du giỏi dùng chữ nước là vì thế. Cụ tuyệt đối không câu nệ như chúng ta tự trói mình vào để nghĩ thay cho thi hào.

9. Có thể đi đến khẳng định:

 “Lượn một vòng đi hết nước non xanh” là để đẩy cánh cửa bao người khác đã mở. Nhưng vẫn phải đẩy vì cần mở rộng cửa mà đón khách, để khách bước chân tự nhiên, tự do hơn trong lâu đài nghệ thuật kì lạ của Truyện Kiều Nguyễn Du.

 Chữ NEN với âm đọc của nó là một chữ có thật, có nghĩa, có nguồn cội, có đặc tự trong kho từ cổ Việt Nam và Nguyễn Du cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX đã dùng nó để sáng tạo.

 Trong quá trình hành chức, NEN đã bị NÊM, với những ưu thế hiển nhiên, đẩy vào tình thế ẩn dật vào các cách viết, cách ghi ở các văn bản cổ xưa. Một cách đọc hướng tới mục đích tầm nguyên Truyện Kiều chắc chắn phải tái lập lại chữ này.

 Cách đọc và giải thích về chữ NEN của GS Đào Duy Anh trong Từ điển Truyện Kiều (Bản in lần I) là cách hiểu lão luyện của một người tiếp thu tinh hoa của người xưa và đầy mẫn cảm ngôn ngữ, mẫn cảm văn chương. Cụ viết ngắn, cẩn trọng, vừa đủ, nhưng khẳng quyết. Và cuối cùng vẫn cứ là những gì mà GS và nhiều người am tường cổ học đã khẳng định:

 + Ngựa xe như nước, áo quần như NEN.

 + Trong nhà người chật một lần như NEN.

 

Hà Nội 10 tháng 11 năm 2015.

Top