Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế - Nghệ thuật tả cảnh trong thơ

 PHONG KIỀU DẠ BẠC CỦA TRƯƠNG KẾ - NGHỆ THUẬT TẢ CẢNH TRONG THƠ.

Nguyễn Hùng Vĩ.

 

Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Nhờ hai chữ “dạ bán” mà ta định được thời điểm tác giả làm bài thơ: đúng nửa đêm. Khách thuyền chưa ngủ nằm nghe tiếng chuông vọng tới từ chùa Hàn Sơn, nằm ngoài và cách khá xa bến Phong Kiều. Thời gian chỉ là một khoảnh khắc mà thôi, tất cả xẩy ra như là đồng thời vậy.

Tuy nhiên, “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu”. Nhưng đó là cái sầu gì? Thật khó gọi tên. Nếu gọi tên ra nhiều khi khiên cưỡng và không khéo vô tình làm hỏng mất cái mang mang thiên cổ sầu, cái sầu vĩnh hằng của cả nhân loại thơ ca.

Nhưng trước hết ta thấy hãy tiếp xúc với với cảnh cái đã, vì bài thơ 28 chữ thì đã có đến 27 chữ là hình ảnh của tồn tại khách quan rồi. Mỗi chữ “sầu” là tâm trạng mà thôi: một chữ nhân tình hóa toàn bộ bài thơ, một chữ duy nhất có bộ “tâm” bạn ạ. Ta bắt đầu như những gì văn bản ưu tiên về tần số xuất hiện áp đảo.

1. Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên.

Một câu thơ 7 chữ mà thúc vào đó đến 3 câu ngữ pháp có đủ chủ ngữ và vị ngữ. Cả ba thực thể xuất hiện đồng thời buộc tác giả phải chụp toàn cảnh nó. Vâng đó là một cảnh toàn trong điện ảnh. Đây không phải là một thúc bách nội tâm mà là một thúc bách từ chương học của thơ trung đại. Lạc, đề, mãn là 3 động từ thật nhưng là chỉ tình thế, và, gần như từng cụm một đã được danh hóa để vẽ nên ba cảnh sắc của nền không gian trong một thời điểm. Tất nhiên, tác giả khéo lựa chọn để nhúng toàn bộ giác quan nhà thơ, chủ thể tri nhận, vào không gian đó, tan hết mình vào tự nhiên. Viết đến đây, tôi thoạt nhớ đến một khổ thơ của chính mình trong một đêm sương tháng mười Hà Nội:

Đi như mây chân tay hóa hơi

Buông xuống bữa đầu sương thiên cổ

Nếu tháng mười không chê ta bụi quá

Cho ta tan ra khói sương này.

    (Tháng Mười)

[Thật vô duyên phải không các bạn, ai lại lấy thơ mình ra làm ví dụ. Thật phạm thượng phải không các bạn, ai lại dắt thơ mình vào khi bình tác phẩm của một vĩ nhân thơ ca. Mặc kệ. Tôi cứ mạn phép vì tôi cũng là một sinh linh. Thế thôi].

Nguyệt lạc rõ là một cảm nhận về thị giác. Ô đề là cảm nhận về thính giác. Sương mãn thiên thì vừa thị giác lại vừa xúc giác: sương sa bao giờ chả đi với lành lạnh. Tác giả đang tan hết mình, hết mọi giác quan thơ ca vào tự nhiên.

Giả dụ như, ba mệnh đề trên nếu chỉ là một cảm quan thuần túy thị giác hay thính giác hay xúc giác thì câu thơ sẽ đơn thức biết dường nào.

Lí tính nói: Tác giả làm ra câu thơ (ta vẫn hay nói rất vụng là “làm thơ”). Nhưng thi tính sẽ nói rằng: Tác giả tan vào tự nhiên và thơ tự ngân vang. Có ai cấm nghĩ vậy không nhỉ?. Là Đạo chăng? Là Thiền chăng? Là Nho chăng? Không! Cao cả hơn thế: đó chính là Thơ.

 Nhưng điều muốn nói là câu thơ lại hiện thực bất ngờ, chính xác bất ngờ đến từng chi tiết không gian và thời gian, nó mang phẩm chất một bài tức cảnh.

Liệu ngày nào thì nguyệt lạc (trăng lặn) vào đúng bán dạ (nửa đêm). Trăng ngày Rằm thì:

Giữa tối cái đêm hôm Rằm

Nửa đêm về sáng trăng bằng ngọn tre

Hoặc:

Phất phơ ngọn trúc trăng tà

Mới chỉ là , về sáng nó mới lặn (nguyệt lạc).

Còn nửa đêm mà lặn thì đó là đêm mùng 8 một tháng âm lịch, khi vào bữa ăn tối thì trăng ở ngay đỉnh trời. Khi trăng lặn, trời chuyển từ sáng sang tối trong khoảnh khắc. Loài chim là loài cực kì mẫn cảm với ánh sáng và tập tính của nó biểu lộ dễ nhận ra nhất. Từ tối sang sáng, gà gáy chim hót. Từ sáng sang tối cũng có hiệu ứng tương tự: một số loài tự nhiên chuyền cành rục rịch và kêu lên (không phải gáy hay hót). Ai trải nghiệm không gian nông thôn còn thanh bình, ít điện đóm thì chứng kiến hiện thực hiển nhiên đó.

Vậy với một không gian toàn cảnh, tác giả lựa chọn ô, một loài quạ có tiếng kêu to hơn, hình thể to hơn (và dị thường nữa) là một sự lựa chọn có thi pháp. Với khoảng cách tạo phông đó, không tả loài chim nhỏ rúc rích là đúng đắn. Âm thanh mà là hình ảnh. Vẽ người xa không vẽ mắt, vẽ cây xa không vẽ cành. Thi pháp hội họa đông phương đã từng dạy vậy.

Nhưng sau đó không gian toàn cảnh sẽ phủ kín bởi mênh mang sương giăng: sương mãn thiên. Sương là dấu hiệu của mùa thu. Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương (Bà Huyện Thanh Quan). Mấy tinh sương là mấy năm vì người xưa dùng sao (tinh) và mùa sương (sương) để tính năm. Ở phương bắc sương nhiều vào tháng tám, ở phương nam sương nhiều tháng chín, cũng đều là mùa thu cả.

Bài thơ được tác giả viết trong một đêm mùng 8 tháng 8 hoặc tháng 9 âm lịch, thuộc mùa thu. Cây phong (loài cây lá đến mùa thu thì đỏ) trên bến cũng là một dấu hiệu cổ thi mang thông điệp mùa thu bổ sung cho cách hiểu này.

Viết đến đây tôi lại nhớ đến cái cách GS Hoàng Xuân Hãn dùng tri thức thiên văn học mà tính ra thời điểm của Một vành trăng sáng ba sao giữa trời (Truyện Kiều).

Bắt đầu từ Thơ Mới cho đến ngày nay, nhiều nhà thơ ở ta hầu như quên từ chương học ngày xưa mà viết những câu thơ bất chấp thời gian không gian, nhặt ra mà cười thì nhiều lắm. Thi pháp khác chăng? Tôi đọc kĩ thơ Nôm Nguyễn Trãi, muốn bắt bẻ ông tí xíu mà với 254 bài, không thấy ông vấp một chỗ nào cả đấy. Ngày xưa viết sai, tao nhân mặc khách họ cười cho suốt đời.

Toàn cảnh đã vậy, cận cảnh thì sao?

2. Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.

Một câu thơ cực kì dung dị mà tốn giấy mực không biết bao nhiêu người, những người thích “phức tạp hóa vấn đề”.

Tôi hiểu tại sao vậy. Lỗi chính nằm ở ba chữ “đối sầu miên”. Rất nhiều ý kiến cho rằng chỉ có người mới sầu, chỉ có người mới ngủ cho nên chủ thể của sầumiên chính là tác giả. Hai thực thể trên (giang phongngư hỏa) đang đối diện với tác giả. Bởi vậy họ có những bình luận vu khoát và xa xôi.

Bắt đầu từ chữ “đối”. Chỉ cần mở từ điển Hán Việt, ta thấy ngay một dãy nghĩa của nó: Thưa đáp; ứng đáp; cư xử, đối đãi; hướng về chĩa vào; thích ứng, tương hợp; so sánh, kiểm nghiệm; điều chỉnh; pha thêm chế thêm; lắp, tra, khớp vào nhau; người hay vật sánh với nhau thành một đôi; nói tắt của đối liên; lượng từ: cặp, đôi; bên kia, trước mặt…

Trong dãy nghĩa đó, đứng trong ngữ pháp thơ của câu thơ, cả hai thực thể đứng trước, giang phong (cây bến sông) và ngư hỏa (bếp nhà chài) thì “đối” ứng với nghĩa tương hợp (cùng như nhau), ứng với nghĩa cặp, đôi, ứng với nghĩa sánh với nhau thành một đôi. Đúng không!

Câu thơ phải hiểu là: Cây phong bến sông, ánh lửa bếp chài: cả hai đều như cùng lặng ngủ rầu rầu.

Giang phongngư hỏa: cả hai đều như nhau (đối), cả hai cùng lặng buồn (sầu), cả hai cùng ngủ vùi (miên). Ba động từ chỉ trạng thái đều dành cho cặp đôi này.

Còn về ngữ liệu chữ “đối” trong thơ ca trung đại phương đông và khuôn hình câu thơ tương tự chứa chữ “đối” với nghĩa này thì tôi sẽ hẹn trình bày một bài khác, vì ngữ liệu quá nhiều.

Vậy cây phong bến và bếp lửa chài có sầu không, có miên không? Hoàn toàn có. Con người không thôi gắn phẩm chất tinh thần của mình cho tự nhiên và gọi lên thành lời những phẩm chất đó, ngược lại, tự nhiên trong muôn hình thể khiến con người tập nhiễm vào tâm hồn: thác có thác hiền lành thác dữ dội, núi có núi trầm tư, núi lẫm liệt, biển có biển hiền hòa biển thủy chung, cây có cây nô bộc có cây trượng phu, cành có cành múa vui có cành ủ rũ… Vậy một cái cây đứng lặng, thẫm màu trong đêm tối, bếp nhà chài tắt lửa lạnh lẽo hà cớ gì không nói lên là buồn, là ngủ.

Để tả một không gian đêm thu tối trời, lạnh lẽo, vắng vẻ, tác giả đã nhập hồn vào đó: cảnh và người hòa đồng như nhất: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Tự sự đẩy cảnh ra khỏi chủ thể mà kể. Trữ tình tan vào cảnh mà biểu hiện. Nhà thơ không nhất thiết xuất hiện như một chủ thể ở đây (dẫu dưới dạng ẩn chủ ngữ) mà chỉ hồn của anh ta thôi. “Ý kị lộ, mạch kị trực” là vậy. Hiểu, dịch và bình giảng không tinh tế là phơi thơ ra một cách suồng sã.

Cụ Tản Đà là nhà thơ thâm thúy cổ thi đã dịch ta nghe câu này thật khéo: Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ.

3. Và trong đêm tối đó, hình ảnh khác xuất hiện có định hướng khá rõ:

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự.

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Khách thuyền là con thuyền lữ thứ, con thuyền tha phương lênh đênh phiêu dạt, đã thành một biểu tượng. Với thân làm khách, Vương Duy đời Đường trước đó từng viết Độc tại dị hương vi dị khách/ Mỗi phùng giai tiết bội tư nhân (Một mình ở quê người làm khách lạ/ Mỗi lần gặp tiết trời đẹp càng thêm nhớ người thân).

Chùa Hàn Sơn ở ngoài thành Cô Tô cách xa bến Phong Kiều sao mà “tả” rõ vậy. Đây là nghệ thuật tả đêm của từ chương học: Khi không nhìn thấy được thì sẽ tả bằng tai, bằng da thịt, tâm cảm. Vì không ngủ (hoặc chưa ngủ), tiếng chuông chùa vọng đến khiến tác giả biết rõ đó là tiếng chuông chùa Hàn Sơn ngoài thành Cô Tô.

Vì câu thơ thứ ba xuất hiện trước nên có người tách ra để đàn hặc tác giả là tại sao thấy chùa xa vậy mà tả? Nhưng nếu ta thử sửa hai câu thành:

 Khách thuyền dạ bán chung thanh đáo

 Cô Tô thành ngoại thị Hàn Sơn.

(vẫn đúng ngữ pháp Đường thi đấy nhé, chỉ vụng về thôi)

 thì sẽ hiểu ra ngay thủ pháp này. Điều này cũng như có người phê bình thắc mắc tại sao đã “Tịt mù khói tỏa ngàn sương” mà vẫn tả được “mặt gương Tây hồ”. Họ quên mất là nhờ nghe tiếng “nhịp chày An Thái” vọng qua mà Cụ Thượng Dương Vân Trì (Dương Khuê) đã viết được câu thơ thần sầu đó.

Tả cảnh bằng tai, bằng thính giác khi thị giác không thể hoặc không thuận lợi là như vậy. Đó là bài học đã cổ xưa của những ai cầm bút làm thơ.

Hình ảnh thơ vận động từ không gian xa rồi gần khi còn có thể quan sát (tương kiến), đến khi nhờ sự vọng vang mà nhận ra, tỏa ra mênh mang (tương cảm) và mơ màng trong tâm tưởng. Từ một góc buộc thuyền giản dị mà lan tỏa đất trời trong đêm thu tĩnh lặng.

 4. Bài thơ sớm khẳng định là một tuyệt phẩm nghệ thuật mang tầm nhân loại để xưa nay, cả ta và tàu bình phẩm không tiếc giấy mực: nó đã sống một cuộc đời khác, vi vu trong thế giới tiếp nhận thơ ca muôn lí ngàn lẽ cuộc đời.

Hà Nội 10 – 12 – 2016.

 

Top