Khương Công Phụ và những dấu tích còn lại với thời gian

KHƯƠNG CÔNG PHỤ VÀ NHỮNG DẤU TÍCH CÒN LẠI VỚI THỜI GIAN

Phạm Tuấn

Phòng Sưu Tầm – Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Hiện nay nghiên cứu dịch thuật và giới thiệu về tác phẩm của Khương Công Phụ có công trình Sưu tầm và khảo luận tác phẩm Chữ Hán của người Việt Nam trước thế kỉ X của Giáo sư Trần Nghĩa. Trong đó, Giáo sư đã biên dịch các bài văn của Khương Công Phụ hiện còn dựa vào tư liệu từ Toàn Đường văn -  biên soạn đầu thế kỉ XIX thời Thanh (Trung Quốc). Đây chính là công trình đáng nói nhất trong những nghiên cứu về con người và sự nghiệp của người Việt làm quan Tể tướng Đường triều.

Chúng tôi trong quá trình biên dịch Khương công phụ sự trạng khảo do Nhữ Đạm Trai tiên sinh soạn năm Nhâm Thìn niên hiệu Minh Mệnh (1832) gặp nhiều tư liệu về thời đại nhà Đường gắn liền với Khương Công Phụ mà không có trong các tài liệu của người Việt nên đã phải tìm bổ sung từ sử sách Trung Quốc, may mắn cũng chính vì thế, điều kiện tiếp xúc với tư liệu mới về vị Tể tướng Đường triều người Việt cũng được rộng mở hơn. Đây chính là nhân duyên để chúng tôi tổng hợp các tư liệu về Khương Công Phụ và viết bài viết này.

Do tính chất con người và thời đại của Khương Công Phụ và tài liệu lịch sử, nên chúng tôi từng bước biện luận về ông, trên khía cạnh từng bước phân tích lịch sử con người.

Các tài liệu Lịch sử

Các tài liệu nghiên cứu về lịch sử nước ta đến nay về trước thế kỉ thứ X quả là rất ít để nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói riêng và các tác gia nhân vật người Việt nói chung, Khương Công Phụ cũng là một trường hợp như thế. Chúng tôi tiến hành lật lại các tư liệu thời Đường về sau của Trung Quốc đến tài liệu của người Việt để từng bước nghiên cứu lịch sử về con người và thời đại của vị Trạng nguyên Tiến sĩ đầu tiên của nước ta. Tài liệu quan trọng mà chúng tôi tin cậy là Cựu Đường thư[1], Tân Đường thư[2], Tống thư, An Nam chí lược[3], Đại Việt sử kí toàn thư[4], Toàn đường văn[5], Khương Công Phụ sự trạng khảo[6], các tài liệu bia chí, câu đối hoành phi… trong thư tịch Trung Quốc và Việt Nam ghi chép về ông, nhằm làm rõ con người và những đóng góp của Khương Công Phụ với Lịch sử cũng như lịch sử đã công nhận ông qua thư tịch các thời. Tư liệu của người Việt, An Nam chí lược có thể là tài liệu cổ nhất, gần nhất với Khương Công Phụ thì phần văn bản gần như chép nguyên lại của Tân Đường thư. Các tài liệu khác của người Việt khác biên soạn sau này chỉ có Khương Công Phụ sự trạng khảo của Nhữ Bá Sĩ là văn bản công phu và đầy đủ. Thậm chí có thể nói, Khương Công Phụ sự trạng khảo là văn bản khảo sát đầy đủ nhất về Khương Công Phụ từ trước đến nay, từ Trung Hoa tới Việt Nam, bởi lẽ trong lần sang sứ Trung Quốc, Nhữ Bá Sĩ đã tổng hợp các nguồn tài liệu chính sử để dựng lại hình tượng nhân vật Khương Công Phụ. Ngoài ra, chúng tôi tham khảo hệ thống bia chí ở đền Khương Công Phụ tại Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, hệ thống sắc phong cho Khương Công Phụ qua các thời kì, câu đối hoành phi ở đề thờ Khương Công từ ở xã Định Thành huyện Yên Định tỉnh Thanh Hoá để làm rõ hơn hình tượng con người ông.

Quê quán:

Các tài liệu chính sử của Trung Quốc trong giai đoạn Đường triều như Cựu Đường thư, Tân Đường thư… đều không ghi rõ ông sinh năm nào. Các tài liệu lịch sử về sau phần nhiều dựa vào Cựu Đường thư, Tân Đường thư nên càng không có nhận định gì mới mẻ hơn, trong đó, các tài liệu của người Việt biên soạn cũng như thế. Cựu Đường thư là bộ sách gần với Khương Công Phụ, trong phần biên soạn về ông ở Liệt truyện 88 quyển 42 đã viết: “姜公,不知许人Khương công phụ, bất tri hà hứa nhân – Khương công phụ, không rõ người ở đâu”. Tuy nhiên, đến Tân Đường thư đã biên soạn về phần Khương Công Phụ ở Liệt truyện 77 quyển 152 cho biết: “姜公辅爱州日南Khương công Phụ, Ái Châu Nhật Nam nhân – Khương Công Phụ người Ái Châu Nhật Nam. Trong Văn Hiến thông khảo, khi ghi chép về Việt Nam cũng ghi về Khương Công Phụ như sau: “爱州唐姜公辅实生之Ái Châu, Đường, Khương công Phụ thực sinh chi – Ái Châu thực chất là nơi sinh ra Khương Công Phụ thời Đường”. Như vậy, các tài liệu đáng tin cậy nhất và gần với thời đại Khương Công Phụ đều khẳng định ông quê Ái Châu (nay là huyện Yên Định tỉnh Thanh Hoá) và không ghi chép năm sinh năm mất của ông.

Tuy nhiên, gần đây, trong các công trình nghiên cứu dựa trên các tài liệu gia phả[7], tài liệu lịch sử.… đã cho thêm giả định Khương Công Phụ quê ở Khâm Châu[8], sau khi không được Đức Tông trọng dụng cùng với bị sàm tấu bởi triều đình, con cháu ông đã sợ bị hại mà chạy vào Ái Châu – Thanh Hóa. Điều này cũng có vẻ hợp lý cũng như họ Khương phát triển ở Trung Quốc cũng rất nhiều không chỉ ở đất Ái Châu.

Thuyết cho rằng ông là người Ái Châu, là con một vị quan nhỏ, được học hành đầy đủ từ nhỏ, ông đã ngao du nhiều nơi đất kinh kì, rồi qua Trung Quốc thi cử. Việc này được nhiều tài liệu ghi chép lại như An Nam chí lược cho rằng ông là con của Khương Đỉnh và cháu của Khương Thần Dực. Trong Khương Công Phụ sự trạng khảo (1832) cho biết: Tiên tổ họ Khương, từ đất Thiên Thủy – Lũng Tây, theo chuyển đến Nam Hải - Quảng Châu. Đến Khương Thần Dực mới chuyển đến ở đất Ái Châu làm chức Khâm Châu Tham quân. Sau nhiều lần chuyển làm Thư châu thứ sử, sinh con là Đỉnh. Đỉnh ấm phong mà được chức huyện lệnh (huyện này không rõ), sinh ra Công Phụ. Gia phả họ Khương (1899) phát hiện ở Thạch Thất (Hà Tây) cho biết Khương Đỉnh (còn gọi Khương Công Đỉnh) làm quan Huyện thừa Tiến sĩ thời nhà Đường ở đất Việt, cho nên con được đi thi. Giai đoạn thời Đường, mỗi năm đất An Nam được chọn 8 người sang thi Tiến sĩ. Có thể Khương Công Phụ là 1 trong 8 người được chọn như thế. Điều này cũng hợp lý theo chính sử, bởi thời Đường hàng năm vẫn có lệnh người ở An nam thi cử và làm quan. Khương Công Phụ cũng như Công Phục đã thi đỗ và làm quan trong trường hợp đó.

Con người:

Khương Công Phụ không rõ năm sinh chỉ biết năm mất của ông là năm 805 thời Đức Tông. Ông tên tự là Đức Văn. Tuổi trẻ thi đỗ Tiến sĩ cập đệ, rồi được bổ chức Hiệu Thư lang, sau vì bài văn sách hơn người mà được thăng thi Chế khoa và đỗ cao, thăng Tả Thập di Hàn lâm học sĩ. Trong Tân Đường thư, Âu Dương Tu nói về ông là người “有高材每进见敷奏详亮德宗器之có tài cao, mỗi lần tiến tấu rất rõ ràng, Đức Tông rất xem trọng”.

Tháng 10 năm Kiến Trung thứ 4 (783) ông can gián vua trong việc binh loạn Trường An mà được thăng chức谏议大夫同中书门下平章事Gián nghị Đại phu Đồng trung thư môn hạ Bình Chương sự tức là tương đương chức 宰相Tể tướng. Việc này trong chính sử Cựu Đường thư, Tân Đường thư… mà sau này Khương Công Phụ sự trạng khảo của Nhữ Bá Sĩ cho biết: “Ngày Đinh Tị tháng Đinh năm Quý Hợi năm Kiến trung thứ 4 (783) thăng cho Công Phụ làm Gián 谏议大夫同中书门下平章事Nghị đại phu, Đồng trung Thư môn hạ, Bình chương sự, ban cho quần áo thêu cá vàng”. Chức này trong các sách Tư trị thông giám, Uyên Giám loại hàm, Đường Hội yếu… đều ghi chép ông vào hàng Tể tướng thời Đường.

Năm 784, khi binh loạn còn chưa dứt, thấy vua làm lễ hậu táng xây tháp cho công chúa Đường An, Khương Công Phụ đã viết văn can gián xây tháp mà nên chú trọng nuôi quân hưng thịnh để nước được yên. Vua Đức Tông không bằng lòng đã giáng chức ông xuống là Tả thứ tử, nhận việc trông dạy học cho Thái tử. Năm Trinh Nguyên thứ 8 - 792, ông lại bị biếm chức xuống là 泉州别驾Tuyền Châu biệt giá[9]. Đến khi Thuận Tông lên ngôi, mới cho ông làm 吉州刺史Cát Châu Thứ sử thì ông mất khi chưa kịp nhậm chức. Thời Hiến tông truy tặng ông chức 礼部尚书Lễ Bộ thượng thư.

Sự nghiệp làm quan của Khương Công Phụ đến năm 792 thời Đường đã chấm dứt. Sau hơn 30 năm làm quan cho triều Đường và mở sang trang mới trong cuộc đời của ông, cuộc đời ở ẩn của Khương Công Phụ.

Ở ẩn:

Khi biết không được trọng dgụng trong triều, Khương Công Phụ đã viết tấu xin Đức Tông cho làm Đạo Sĩ. Quả nhiên, sau khi bị biếm về Tuyền Châu, ông đã thoả mong ước ở ẩn của đời. Về Tuyền Châu, Khương Công Phụ đã được quan lại địa phương rất trọng quý. Thứ sử Tuyền Châu lúc bấy giờ là席相Tịch Tướng rất quý mến Công Phụ, thường mời qua lại chiêu khách.

Thịnh trị thời Đương gắn với nhiều nhà thơ nổi ttiếng, trong đó Tần Hệ[10] không phải là ngoại lệ. Xuất thân làm quan lại, trải qua thời Trung Đường thịnh trị, Tần Hệ chuyển về Tuyền Châu, nương vào núi ở ẩn 20 năm bởi loạn An Lộc Sơn. Sau năm 780, ông chuyển về phía Tây núi Cửu Nhật[11] 九日山ở Nam An ở ẩn. Ông sáng tác thơ văn, trong Toàn Đường thi còn một quyển thơ của ông. Sống khảng khái, Tần Hệ là mẫu nhà thơ đóng cửa gỗ, không cài then cầm kì thi tửu, vui thú điền viên. Bấy giờ, Công Phụ về Tuyền Châu, nghe nói Tần Hệ nên ngưỡng vọng mới đến bái phỏng. Hai người một kẻ mộ đạo thanh tuyền,  người kia lòng trung ngưỡng kính, mới kết giao bằng hữu cùng đàm đạo bầu rượu túi thơ.

Từ đó, Công Phụ mới dựng nhà trúc ở phía Đông núi Cửu nhật, cùng đối ngọn với Tần Hệ, hai người hai ngọn núi. Ngọn núi phía Đông hình như con Kì lân nên gọi là麒麟山Kì Lân sơn, sau vì Khương Công Phụ ở nên gọi là姜相峰Khương tướng phong[12]. Khương Công Phụ cùng người bạn tiêu dao cảnh vắng am tranh được 13 năm thì mất vào năm 805 niên hiệu Vĩnh Trinh thời Đường Thuận Tông. Sau khi ông mất, do gia quyến ở xa nên Tần Hệ đã mai táng ông ở phía đông núi Cửu Nhật. Mộ Khương Công Phụ được tu sửa các thời và bảo tồn. Trên mộ có bia khắc chữ Khải bên mặt âm như sau: ·相國忠肅姜公封塋Đường Tướng quốc Trung túc Khương công phong oánh”. Tại mộ Công Phụ, sau này thời Minh, Truyền Khải viết 重修姜相墓碑记Trùng tu Khương tướng mộ bi kí ca ngợi rằng: 公盖以之古今,孰不仰姜相之高峰!满山红叶,孤坟朦朦,不有我侯,孰起其崇 – Công cái dĩ chi cổ kim, thục bất ngưỡng Khương tướng chi cao phong, mãn sơn hồng diệp, cô phần mông mông, bất hữu ngã hầu, thục khởi kì sùng – Ông công bao trùm xưa nay, há không ngưỡng vọng núi cao Khương tướng, đầy núi lá hồng, mộ phần riêng cô độc mông lung, chẳng phải đợi ta, há ai dấy lên việc tôn sùng”. Về sau, Tần Hệ cũng mất ở đây. Các thời quan lại ở Tuyền Châu nhiều lần tu sửa mộ chí cũng như xây dựng đền thờ những người ở đây. Ban đầu xây Nhị hiền từ để thờ Khương Công Phụ và Tần Hệ, về sau xây Tam Hiền từ để thờ thêm Hàn Ốc. Lại ở Đông Hồ – Tuyền Châu, xây dựng Nhị công đình để tưởng niệm Công Phụ và Tần Hệ.

Thơ văn

Khương Công Phụ để lại một bài phú Bạch vân chiếu xuân hải phú và bài văn Đối trực ngôn cực gián cách đều được lưu lại trong Toàn Đường văn quyển 446 và đã có bản dịch trong công trình Sưu tầm và khảo luận tác phẩm Chữ Hán của người Việt Nam trước thế kỉ X của Gs. Trần Nghĩa. Ngoài ra, các tài liệu liên quan đến Khương Công Phụ còn có các bài văn can gián và tấu biểu của Lục Chí[13] cũng như các văn chương thời Đường mà hiện nay chúng ta chưa biên dịch. Trong bài viết này, chúng tôi đề cập một số thơ văn có quan hệ với Khương Công Phụ trong giai đoạn ông đã về ở ẩn tại Cửu Nhật sơn về sau.

Nhiều nhà thơ của Trung Quốc về Cửu Nhật sơn đã để lại thơ văn ca ngợi Khương Công Phụ, cũng như Tần Hệ. Trong đó đáng kể như Tuyền Châu Thái thú Vương Thập Bằng[14], Tuyền Châu Thái thú Chân Đức Tú[15] thời Tống, Hoàng Cơ, Truyền Khải[16] thời Minh ở Nam An….

王十朋Vương Thập Bằng, làm quan 泉州太守Thái Thú Tuyền Châu thời Tống, ông để lại nhiều bài thơ ca ngợi Khương Công Phụ, trong đó như bài Khương Tướng Phong姜相峰:

相国忠如宋广平 

危言流落晋江城

资自直无心

处青山亦得名

Phiên âm:

Tướng quốc trung như Tống Quảng Bình

Nguy ngôn lưu lạc Tấn giang thành.

Thiên tư tự trực vô tâm mãi.

Hà xứ thanh sơn diệc đắc danh.

Dịch nghĩa:

Lòng trung của Tướng quốc như Quảng Bình thời Tống,

Lời nói ngay thẳng nên lưu lạc đến thành Tấn Giang.

Thiên tư ngay thẳng không phải lòng bán mua được,

Nơi nào núi xanh chẳng vang danh.

泉州太守Thái thú Tuyền Châu là 真德秀Chân Đức Tú cũng có bài tế văn ở mộ phần Khương Công Phụ. Bài tế như sau:

疑疑姜公

巉巉东峰

峰以公名

千古并崇

Phiên âm:

Nghi nghi Khương công

Sàm Sàm đông phong

Phong dĩ công danh

Thiên cổ tịnh sùng

Dịch nghĩa:

Ngời ngợi Khương công

Nguy nga núi phía đông

Núi lấy tên người làm tên

Nghìn năm vẫn tôn sùng

Thơ văn các thời ca ngợi cũng như đồng cảm với Khương Công Phụ và cảnh núi non Cửu Nhật sơn. Ca ngợi sự trung thành vủa vị Tể tướng Đường triều cũng thể hiện trong thơ văn các văn nhân sĩ phu như: 孤忠曾记犯龙鳞Cô Trung tằng kí phạm long lần – Lòng trung cô đơn từng ghi vào lòng vua chúa (long lân) như thơ Vương Thập Bằng đã viết. Còn nhiều thơ văn ca ngợi Khương Công Phụ của danh nhân các thời, còn lưu lại trong các bộ sử sách, thơ văn các thời của Trung    quốc cũng như Việt Nam.

Ở Việt Nam, theo Khương Công Phụ sự trạng khảo cho biết tại Thanh Hoá có 2 đền thờ Khương Công Phụ ở huyện Hoằng Hoá và huyện Yên Định. Ngày nay còn đền thờ tại xã Định Thành huyện Yên Định với nhiều tài liệu hán Nôm còn đến ngày nay. Trong đó đáng chú ý là văn bia Cung tiến bi kíKhương Tiên sinh từ bi vào năm Tự Đức thứ 13 (1860) ghi chép  lại việc trùng tu đền thờ. Ngoài ra, còn hệ thống sắc phong, trong đó đáng kể là sắc thời Tự Đức thứ 3 (1850) ban cho thờ Khương Công Phụ là Tinh trung hiển tiết Gia danh Phương Trục Quang ý Trung đẳng thần. Đến nay, đền thờ nhiều lần trùng tu, sửa chữa để làm nơi thờ tự cho vị Tể tướng người Việt thời Đường.

Kết luận:

Khương Công Phụ với hơn 30 năm làm quan triều Đường, sau khi bị biếm đi Tuyền Châu ông lại ở ẩn 13 năm nữa mới mất. Cuộc đời Khương Công Phụ nếm đủ thăng trầm quan vị cho đến tiêu dao với đạo bát ngát mây với nước như bài văn Bạch vân chiếu xuân hải phú của ông. Công danh muôn thưở, tiếng thơm trung nghĩa mãi lưu để vang vọng một vị danh nhân, huân thần, một vị thần linh người Việt.

Thời vũ viện – đầu năm 2010.

Tài liệu tham khảo:

  1. 姜公輔事狀考Khương Công Phụ sự trạng khảo. Nhữ Bá Sĩ, quê Cát Xuyên, Hoằng Hoá, Thanh Hoá, 1 bản viết tay, Ký hiệu: A.2912: 24 trang, Niên đại: 1832 (Minh Mệnh).
  2. 旧唐书Cựu Đường thư, là bộ sử sớm nhất về thời Đường. Sách biên soạn thời Ngũ Đại Hậu Tấn, ban đầu tên là Đường thư, về sau nhân việc nhóm tác giả Âu Dương tu thời Tống biên soạn Tân Đường thư新唐书mà sách đổi tên thành Cựu Đường thư. Cựu Đường thư gồm 200 quyển, bao quát Bản kỉ 20 quyển, Chí 30 quyển, liệt truyện 150 quyển. Sách gồm tập thể tác giả biên tập các thời, đến khoảng năm 945 thì hoàn thiện, đến nay mang tên người biên soạn cuối cùng là Lưu Tuần.
  3. Đường Hội Yếu, Bắc Tống Vương Phổ 王溥(922982 soạn, 100 quyển, ghi chép về lịch sử, điển chương chế độ thời Đường.
  4. [1]新唐书Tân Đường thư, 欧阳修Âu Dương Tu thời Tống soạn. 上海古籍出出版社、上海书店,1986
  5. An Nam chí lược. Tác giả: Lê Tắc. Nhà xuất bản: Nxb Lao Động và TT VHNN Đông Tây. Ngày xuất bản: Qúy I-2009
  6. Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993
  7. Toàn Đường văn, thời Thanh Trung Quốc soạn.
  8. Trần Nghĩa – Sưu tầm và khảo luận tác phẩm Chữ Hán của người Việt Nam trước thế kỉ X, nxb Thế giới, Hà Nội – 2000.
  9. Tư liệu Hán Nôm bao gồm câu đối, hoành phi, sắc phong, văn bia… tại Đền thờ Khương Công Phụ xã Định Thành huyện Yên Định tỉnh Thanh Hoá.


[1]旧唐书Cựu Đường thư, là bộ sử thời Đường. Sách biên soạn thời Ngũ Đại Hậu Tấn, ban đầu tên là Đường thư, về sau nhân việc nhóm tác giả Âu Dương tu thời Tống biên soạn Tân Đường thư新唐书mà sách đổi tên thành Cựu Đường thư. Cựu Đường thư gồm 200 quyển, bao quát Bản kỉ 20 quyển, Chí 30 quyển, liệt truyện 150 quyển. Sách gồm tập thể tác giả biên tập các thời, đến khoảng năm 945 thì hoàn thiện, đến nay mang tên người biên soạn cuối cùng là Lưu Tuần.

[2]新唐书Tân Đường thư, 欧阳修Âu Dương Tu thời Tống soạn. 上海古籍出出版社、上海书店,1986

[3] An Nam chí lược. Tác giả: Lê Tắc. Nhà xuất bản: Nxb Lao Động và TT VHNN Đông Tây. Ngày xuất bản: Qúy I-2009

[4] Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993

[5] Toàn Đường văn, thời Thanh Trung Quốc soạn.

[6]姜公輔事狀考Khương Công Phụ sự trạng khảo. Nhữ Bá Sĩ, quê Cát Xuyên, Hoằng Hoá, Thanh Hoá, 1 bản viết tay, Ký hiệu: A.2912: 24 trang, Niên đại: 1832 (Minh Mệnh).

[7]. Về cuốn gia phả dòng họ Khương Công Phụ, Nguyễn Thị Măng, Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong Thông báo Hán Nôm 2001, bài viết cho biết Khương Công Phụ sinh năm 793.

[8] Khâm Châu, nay thuộc Quảng Tây – Trung Quốc.

[9] Tuyền Châu, là một thành phố nhỏ của tỉnh Phúc Kiến. Tại Tuyền Châu có các địa danh như Nam An, Bồ Điền, Tiên Du. Khương Công Phụ ở Tuyền Châu là ở Nam An.

[10] Tần Hệ (724 -808) người Cối Kê, nhà thơ thời Đường. Ông còn lại một tập trong Toàn Đường thi.

[11] Cửu nhật sơn, núi ở phía tây Nam An, thuộc Tuyền Châu – tỉnh Phúc Kiến – Trung Quốc.

[12] Thời Bắc Tống năm Khánh Lịch thứ 4 (1041), Tô Thân người Đồng An ở Tuyền Châu đến đề khắc chữ “Khương tướng phong” ở núi này.

[13] Lục Chí (754 – 805) tiến sĩ năm 773, làm quan thời Đường Đức Tông, năm 792 thay Khương Công Phụ làm Tể tướng, 794 bị biếm chức làm trung Châu biệt giá rồi mất. Ông còn tập Lục Tuyên công Hàn uyển tập, gồm 24 quyển. Xem phân văn chương của Lục Chí trong Toàn Đường văn quyển 470, phần văn Lục Chí, như Hưng Nguyên luận giải Khương công phụ trạng, hựu đáp luận Khương Công Phụ trạng….

[14] Vương Thập Bằng (1112 -1171) tự là Quy Lân, hiệu Mai Khê, là chính trị gia thời Nam Tống, là nhà thơ, là một danh thần nổi danh một thời, ônglàm quan thời Tống Huy tông,

[15] Chân Đức Tú (1178 – 1235) làm quan thái thú sau Vương sĩ Bằng, ông là một triết gia thời Tống, là đệ tử hàng thứ của Chu Hi. Ông đỗ tiến sĩ năm 1199, sau làm quan và chết già.

[16] Truyền Khải tên tự là Kính Trai, Người Nam An – Tuyền Châu, đỗ Tiến sĩ năm Thành Hoà 1478 nhà Minh,  làm quan đến Hộ bộ Lang trung, có văn tập để lại.

Top