Giới hạn của Người đọc qua một trường hợp cụ thể

Chúng tôi chọn một trường hợp thơ Nôm để quan sát về Người đọc. Văn học Nôm Việt Nam tạo điều kiện tốt nhất cho việc thực hành tìm hiểu này bởi nhiều tính chất đặc biệt của nó. Lý luận về Người đọc cơ bản dựa trên mối quan hệ giữa Tác giả- Tác phẩm- Người đọc và ở đó, phát hiện ra tính độc lập tương đối giữa ba yếu tố này. Người đọc là người sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật thông qua Tác phẩm chứ không chỉ Tác giả mới sáng tạo ra thế giới nghệ thuật đó. Hay nói cách khác, trong một quá trình văn học, Tác giả, bằng một cấu trúc ngôn ngữ, sáng tạo ra một thế giới, thế giới đó tồn tại độc lập, khách quan và Người đọc nhìn vào tồn tại khách quan đó để tiếp tục xây dựng nên một thế giới của chính mình. Thế giới mà Người đọc xây nên có tính độc lập tương đối so với thế giới mà Tác giả tạo ra. Đó là một thực tế hiển nhiên. Tuy nhiên, tính độc lập đó luôn luôn là tương đối, là có giới hạn vì tư duy của con người, tuy độc lập với tồn tại khách quan nhưng lại lệ thuộc vào chính tồn tại khách quan. Tư duy nghệ thuật lại càng như thế.

Trở lại với văn học Nôm, chúng ta thấy những tính chất đặc biệt của nó so với các hiện tượng văn học khác và chính ở đây, hiển nhiên bày ra tính độc lập tương đối của cái gọi là Người đọc.

Đây là một hiện tượng văn học được sáng tạo bằng chữ Nôm, một loại kí tự sử dụng thư pháp Hán để, về cơ bản là ghi âm tiếng Việt. Muốn phổ biến nó, chúng ta phải phiên âm. Điều này làm cho nó khác với văn học Nga viết bằng chữ Nga cổ, văn học Trung quốc viết bằng chữ Hán cổ. Nó lại càng khác với các nền văn học viết bằng chữ La tinh hoặc chữ-tiếng nước ngoài.

Đây là một hiện tượng văn học thuộc thời kì Trung đại, ở đó, các tác giả sống trong một không gian văn hóa khác với ngày nay và cũng khác với các nền văn hóa khác, những mã văn hóa mà nó bảo lưu gây ra nhiều cách tiếp nhận khác nhau.

Đây là một hiện tượng văn học được sáng tạo theo một truyền thống từ chương về cơ bản là khác hẳn với thi pháp hiện đại khiến việc tiếp nhận nó rất phức tạp.

Với văn học Nôm, lộ diện nhiều nhất các cách hiểu, cách phiên, cách chú giải… cũng có nghĩa là, những người hiện đại, xây dựng ra những thế giới nghệ thuật rất khác nhau ngay trên một đơn vị câu trúc ngôn ngữ. Điều rất lí thú là, những người phiên âm, chú thích đều có thể gọi họ là những Người đọc chuyên nghiệp (phân biệt với người đọc bình thường, không chuyên nghiệp) nên các cách hiểu khác nhau của họ chính là dẫn chứng độc đáo cho việc quan sát Người đọc cũng như giới hạn của Người đọc.

Trong những bài viết liên quan tới văn học Nôm trước đây ( như Nguyễn Trãi và sex, Những ghi chép chữ nghĩa khi đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi…) chúng tôi đã đưa ra nhiều dẫn chứng về việc các Người đọc chuyên nghiệp đã xây dựng nên thế giới nghệ thuật của mình rất là phong phú trên bản thân một văn bản và không ít trường hợp dẫn đến kết quả là phiên âm tùy tiện, sai lệch so với nguyên bản.

Ở bài viết này, chúng tôi dẫn ra một trường hợp khác, nhỏ nhắn nhưng thú vị để theo dõi vấn đề này.

Trong Quốc âm thi tập, bài số 199 có mục đề là Tích cảnh thi.  Thủ thứ nhất như sau:

Hầu nên khôn lại tiếc khuâng khuâng

Thu đến đêm qua cảm vả mừng

Một tiếng chầy đâu đâm cối nguyệt

Khoan khoan những lệ ác tan vừng.

Năm 1956, những người đầu tiên phiên âm và chú giải thơ Nôm Nguyễn Trãi là Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm (TVG-PTĐ 1956) đặt một dấu (?) sau chữ ác và viết trong mục TỒN NGHI: “Câu 4, chữ 5: Chữ ác có lẽ là chữ thỏ. Vì rằng, câu trên nói “một tiếng chày đâu đâm cối nguyệt”, mà câu này lại nói “những lệ ác tan vừng”, thành ra ý nghĩa mâu thuẫn nhau, nên chúng tôi tưởng có lẽ thợ khắc sai chữ thỏ (mặt trăng) ra chữ ác (mặt trời).”.

Năm 1976, Đào Duy Anh (ĐDA 1976) phiên hẳn chữ ác thành chữ thỏ và viết trong mục chú thích:

“(1) Hầu nên khôn: Khi mình đã gần nên người khôn thì nghĩ lại lòng lại thấy tiếc bâng khuâng tuổi trẻ. (2) Đâm cối nguyệt: Thần thoại Trung-quốc nói rằng trên mặt trăng có con thỏ ngọc giã thuốc tiên. Sách Phó Hàm văn nói: “Trên mặt trăng có gì ? Có thỏ ngọc giã thuốc”. (3) Thỏ tan vừng: Thỏ, bản Nôm vốn chép là (ác). Nhưng “chày đâm cối nguyệt” thì là cảnh đêm, vậy thì ác chính là thỏ mà in lộn thành. Tiếng chày đây có thể là tiếng chày kình đánh chuông, hay tiếng chày giã gạo, hay tiếng chày (châm) đập vải (vì là mùa thu) khiến thi nhân nghĩ đến chày của thỏ ngọc. Thi nhân sợ tiếng chày làm vỡ mất vừng trăng. So với câu 4 bài 160, quét hiên mà sợ tan mất bóng hoa.”.

Năm 1994, Bùi Văn Nguyên chú thích:

“(2) Đâm cối nguyệt: theo thần thoại phương Đông (Ấn Độ, Trung Quốc) ở cung trăng, có con thỏ giã thuốc trường sinh. Do đó, hình tượng con thỏ dùng để chỉ mặt trăng.

(3) Ác tan vừng: trăng mọc thì ngày tàn, thu đến thì hạ qua, thiếu niên, trung niên qua, đang đến độ già nua dần. Sợ ác tan vừng, tức sợ ngày tàn và lão bệnh đến nơi theo quy luật: “Xuân sinh, hạ trưởng, thu thâu, đông tàng”.”.

Năm 2001, các tác giả làm sách Nguyễn Trãi toàn tập tân biên do Mai Quốc Liên chủ biên (Nhóm MQL 2001), với thủ thơ này, viết ở mục chú thích:

“… Chày đâu đâm cối nguyệt: Theo thần thoại Trung Quốc, trên mặt trăng có con thỏ ngọc giã thuốc tiên. Vì thế văn học cổ điển Trung Quốc dùng bóng thỏ, ngọc thỏ để chỉ mặt trăng. Văn học cổ trung đại Việt Nam cũng vậy. Câu này nói mặt trăng đang lên.

Ác tan vừng: Bản Đ DA có chút hiểu lầm, cho rằng đang nói “ chày đâu đâm cối nguyệt” tức là cảnh đêm, sao lại có ác tan vừng (cảnh mặt trời tàn), nên tự đổi lại ác thành thỏ, vì cho là văn bản in lầm.

Ác: Cũng theo thần thoại Trung Quốc, trên mặt trời có con kim ô (ta gọi là quạ vàng hay ác vàng). Do đó kim ô, ô, ác đều chỉ mặt trời.

Cả câu có nghĩa: Hãy thong thả từ từ, vì ta những lo sợ khi trăng mọc thì cũng là lúc bóng mặt trời đã tan, ngày đã tàn. Ý thơ xúc động trước cảnh thời gian đắp đổi qua mau. Nguyễn Du cũng có một câu tương tự “ Trải bao thỏ lặn ác tà”.”.

Năm 2008, tập thể làm sách Tổng tập văn học Nôm Việt Nam t.1 do Nguyễn Tá Nhí chủ biên (Nhóm NTN 2008) chú thích:

Đâm cối nguyệt: giã vào cối có ánh trăng soi

Ác: chỉ mặt trời. Xem thêm câu 5 bài 38, câu 4 bài 88.

Lệ ác tan vừng: Sợ mặt trời lên làm tan mất vừng trăng”.

Năm ý kiến của các nhà phiên chú trên đây trong thời gian từ 1956 đến 2008 cho ta một hiện trường rõ ràng của việc Người đọc đã xây dựng thế giới nghệ thuật của mình khác nhau như thế nào qua một thủ thơ và đặc biệt là ở câu cuối với chữ ác trong văn bản.

Bắt đầu bằng TVG-PTĐ 1956, ta thấy tồn nghi của các cụ có vấn đề khi mà, với việc nhận thấy trong 2 câu thơ liền nhau vừa xuất hiện nguyệt vừa xuất hiện ác liền cho rằng “thành ra ý mâu thuẫn nhau” và giả định do thợ khắc sai chữ thỏ thành chữ ác. Phản bác điều này không có gì là khó khăn khi đặt ác vào ngữ cảnh của câu và của thủ thơ ta sẽ thấy ngay. Trước hết, ác xuất hiện không hẳn là hình ảnh đồng thời, trực quan với nguyệt vì nó đứng sau chữ lệ có nghĩa là sợ: Khoan khoan những lệ ác tan vừng. “Những sợ”… thì hoàn toàn có thể biểu hiện những động thái xẩy ra sau đó thuộc về tương lai, có nghĩa là không đồng hiện. Ví dụ: Tôi sợ bài không viết xong, tôi sợ bệnh không giảm, những sợ mùa màng thất bát…Lúc này, nỗi sợ mới là hiện tại, còn ác tan vừng là chuyện sắp xẩy ra mà thôi. Đặt trong thời điểm đêm đang qua, ta thấy rõ ràng ý thơ hơn. Vậy, việc tồn nghi này là do các cụ sơ suất khi tiếp nhận văn bản thơ, điều đáng lẽ không nên đặt ra.

Rất tiếc, cái không nên này đã ảnh hưởng trực tiếp đến học giả Đào Duy Anh khi lựa chọn cách phiên và cách chú thích. Tiếp tục cách hiểu của người đi trước, cụ cho rằng là câu thơ tả cảnh đêm thì không có mặt trời được nên đoan chắc đó là chữ thỏ in lộn thành. Cụ mạnh dạn phiên là thỏ và chú nghĩa thi nhân sợ tiếng chày làm vỡ mất vừng trăng. Nếu ý này dẫu chấp nhận được đi nữa thì nó cũng đã dựa trên một giả định bất chấp văn bản, làm sai lạc văn bản.

Đến lượt cụ Bùi Văn Nguyên tái lập lại cách phiên đúng như văn bản là ác, đây là bước sửa sai cho người đi trước nhưng ý thơ được cụ hiểu ba chữ ác tan vừng ở phần nghĩa ẩn dụ của nó và tách khỏi văn cảnh toàn khổ và theo cụ, trăng mọc thì ngày tàn, sợ ngày tàn và lão bệnh đến nơi.

Nhóm Mai Quốc Liên rõ ràng là có sự đồng thuận với cách giải thích của Bùi Văn Nguyên và chú thích sợ ác tan vừng là cảnh mặt trời tàn, là “khi trăng mọc cũng là lúc bóng mặt trời đã tan, ngày đã tàn…”. Vì giải thích cụ thể hơn Bùi Văn Nguyên nên chúng ta thấy rõ là cách giải thích này khiên cưỡng, vì trăng mọc lúc bóng mặt trời tan thì đó sẽ là ngày Rằm, vậy giải thích thế nào về hai chữ đêm qua ở câu thơ thứ hai, chả nhẽ trong một tư thế đối diện với cảnh để mà cảm, tiếc mà thời gian lại ngắt quãng đến phi lí: tận chiều tối mới nhớ đến đêm qua?. Tâm trạng cảm trước cảnh mà viết chính là tâm trạng của thể tức cảnh, các cảnh đòi hỏi tính liên tục và lô gíc. Vả lại, để chỉ cảnh mặt trời lặn, ngày hết mà viết ác tan thì là quá gượng ép.

Nhóm Nguyễn Tá Nhí giải thích gọn gàng, sợ mặt trời lên làm tan mất vừng trăng. Không gian thời gian thủ thơ lúc này là vào lúc bình minh. Chữ vừng được hiểu là vừng trăng. Cách hiểu này đã tỏ ra hợp lí hơn nhưng chữ vừng có thể phải xem lại.

Như vậy chỉ qua 4 câu thơ, chúng ta thấy những người chú giải (những người đọc chuyên nghiệp) đã xây dựng cho mình những thế giới nghệ thuật rất khác nhau. Với TVG-PTĐ 1956 và ĐDA 1976 thì đó là cảnh đêm, với BVN 1994 và Nhóm MQL 2001 thì đó là cảnh chiều tối, với Nhóm NTN 2008 thì đó là cảnh bình minh. Quả là phong phú các cách tái lập văn bản.

Vậy thì, qua văn bản ta thấy cảnh và ý thơ là như thế nào? việc này không khó lắm nếu chúng ta chú ý kĩ hơn một chút, đặc biệt là hai câu đầu tiên:

Hầu nên khôn lại tiếc khuâng khuâng

Thu đến đêm qua cảm vả mừng.

Chúng ta nhận ra tâm trạng bâng khuâng trước cảnh vật, những sự lưỡng lự, nước đôi của tình cảm được tác giả bộc bạch, vừa tưởng khôn lại vừa tiếc, vừa cảm lại vừa mừng. Khôn là vì tác giả đầu đã bạc, tiếc vì mình đã sớm già, cảnh vật trôi qua trước mắt khiến người ta động lòng (cảm), lại khiến người ta có chút vui (mừng) vì mình thế mà vẫn sống đến tuổi này ư? Đó là nét tình cảm có thực của người nhận thức mình chuyển sang già. Cảm, mừng, khuâng khuâng trước cảnh vật mà viết ra thơ thì đó chính là thơ tức cảnh. Yếu tố cảnh đã hiển hiện trong đề mục bài thơ: Tích cảnh. Vậy cảnh đó như thế nào? Đó là Thu đến. Người xưa nói Thu đến là để phân biệt với trọng Thu, quý Thu, nghĩa là trỏ đầu tháng 7 âm lịch. Năm tháng bước vào Thu, người bước vào tuổi già là hợp cảnh hợp tình làm tâm trạng thi nhân bâng khuâng. Hai chữ đêm qua có thể hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất là đêm hôm qua, thư hai là đêm đang qua. Ở đây, nghĩa thứ 2 mới là nghĩa đúng đắn cả về thể thơ, ý thơ và tâm trạng. Tức cảnh thì phải là cảnh đang diễn ra trước mắt, ý thơ hợp với tiếng chày, nguyệtvừng ở hai câu sau, tâm trạng thơ hợp với sự bâng khuâng. Nửa đêm về sáng là bước vào kết thúc một chu trình ngày đêm (theo quan niệm xưa), Thu là bước vào việc kết thúc một chu trình năm thì cũng như sang già là bước vào chu trình cuối của đời người. Thu đang đến và đêm đang qua chính là cảnh mà thi nhân đang chứng kiến trước mắt và gợi hứng bâng khuâng cho tác giả. Đó là đêm nào vậy? Đó chính là những ngày 15 hoặc 16 âm lịch, là thời gian mà dân gian vẫn hát Bữa tối cái đêm hôm Rằm, nửa đêm về sáng giăng bằng ngọn tre. Nửa đêm về sáng ngày Rằm hoặc ngay sau Rằm tháng 7 đó chính là thời điểm Nguyễn Trãi cảm tác bài thơ. Điều này hoàn toàn phù hợp với ý, tình, và cảnh của hai câu tiếp theo:

Một tiếng chày đâu đâm cối nguyệt

Khoan khoan những lệ ác tan vừng.

Dưới hình thức ước lệ theo ngữ liệu truyền thống mà Nguyễn Trãi quá thành thạo (thỏ ngọc giã thuốc tiên), thực tại tiếng chày và vầng trăng được miêu tả. Thức khuya dậy sớm là thói quen sử dụng thời gian của nhân dân ta do địa văn hóa nhiệt đới gió mùa mang lại, sau đó được coi như chuẩn mực đánh giá tính cần cù siêng năng và sinh đồ, nhà Nho cũng sinh hoạt như vậy. Tiếng chầy giã bún, giã gió, giã gạo hay giã thuốc cũng thường vang lên lúc nửa đêm về sáng. Nó làm kinh động tâm hồn nhà thơ đang đắm chìm trong bâng khuâng, nó giục giã làm nhà thơ thêm nuối tiếc và một nỗi sợ bùng phát: Sợ thời gian trôi đi, sợ sự yên tĩnh mong manh tan mất:

Khoan khoan những lệ ác tan vừng.

Câu thơ viết dưới dạng thức câu cầu khiến: Hãy chậm thôi, chậm thôi nếu không mặt trời sẽ...

Vấn đề ở đây là vừng là vừng trăng hay vừng là vừng đông? Khi viết bài Nguyễn Trãi sex, chúng tôi  chưa tham khảo cách lí giải của nhóm này. Nếu quan niệm vừng là vừng trăng thì cũng không có gì là không hợp lí cả, nhưng chúng tôi cho rằng vừngvừng đông thì ý thơ tinh tế hơn. Vì ta thấy chữ vừng hay chữ quầng của tiếng Việt đều xuất phát từ chữ Vựng của Hán đọc theo âm Hán Việt. Chứng cứ chữ Nôm và sự thay đổi ngữ âm cho ta khẳng định đó. Mà Vựng trong chữ Hán vốn chỉ vừng sáng quanh mặt trời (có chữ nhật biểu ý) sau đó mới mở rộng nghĩa sang chỉ cả vừng sáng do mặt trăng tạo nên. Vừng đông là do mặt trời chưa mọc tạo nên. Khi mặt trời lên thì vừng đông cũng tan mất. Nhà thơ muốn nói: Chậm thôi, chậm thôi, sợ mặt trời lên thì vừng đông tan mất, một ý thơ tinh tế. Nếu sợ vừng trăng tan mất thì có lẽ nói: Giã khẽ thôi, khẽ thôi không vừng trăng tan mất (!) chắc đã đủ ý rồi.

Từ một trường hợp rất cụ thể đã trình bày, ta thấy những nhà chú giải đã rất phong phú khi xây dựng ý nghĩa văn bản qua cách đọc của mình. Chú giải học (hermeneutics) cùng với thuyết tiếp nhận (theory of reception) và thuyết hồi ứng (reader response theory) là những phương diện của việc nghiên cứu Người đọc. Hiện tượng đặc biệt của văn học Nôm Việt Nam cùng truyền thống chú giải phong phú của khu vực Hán học cho ta những nhìn nhận thú vị về vấn đề này. Người đọc có quyền xây dựng thế giới nghệ thuật của mình qua văn bản tác phẩm, đó là điều khó mà kiểm soát cũng như thực chứng nhưng người đọc chuyên nghiệp (người chú giải) luôn luôn phải có giới hạn, đặc biệt khi tái lập văn bản, không được theo ý mình để văn bản mất đi tính xác thực của nó, dẫn đến hiện tượng dĩ ngoa truyền ngoa.

 

Nhắc lại chuyện cũ, trong cuộc tọa đàm về vấn đề người đọc, tôi có hỏi giáo sư Nga câu hỏi là : “ Ở nước Nga hiện nay, có bao nhiêu phần trăm là người đọc lí tưởng?”. Tôi hỏi câu đó vì, theo quan niệm của tôi, không thể có cái gọi là người đọc lí tưởng. Chỉ có cái gọi là, người đọc chuyên nghiệp và người đọc không chuyên nghiệp mà thôi.

 

Hà Nội tháng 12 năm 2010.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

-Quốc âm thi tập (Trong Ức Trai di tập)- Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm phiên âm và chú giải. Nhà xuất bảns Văn Sử Địa Hà Nội 1956.

-Nguyễn Trãi toàn tập- Nhà xuất bản KHXH Hà Nội 1976.

-Thơ quốc âm Nguyễn Trãi- Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội 1994.

- Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, t.3- Nhà xuất bản Văn hoc- Trung tâm nghiên cứu quốc học  2001.

-Tổng tập văn học Nôm Việt Nam t.1. Nhà xuất bản KHXH Hà Nội 2008.

- Thiều Chửu: Hán Việt tự điển. Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh 1998.

- Đào Duy Anh: Từ điển Hán-Việt. Nhà xuất bản KHXH Hà Nội 2001.

- Tự điển chữ Nôm- Nhà xuất bản Giáo dục 2006.

- Nguyễn Hùng Vĩ: Nguyễn Trãi và sex. T/c Văn Hóa Nghệ An 2009.

-Nguyễn Hùng Vĩ : Những ghi chép chữ nghĩa khi đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. T/c  Từ điển học và Bách khoa thư 2010.

- Nguyễn Hùng Vĩ- Trần Trọng Dương : Những ghi chép chữ nghĩa khi đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Phần 2. (Đã in mạng, chưa in tạp chí).

 

Top