Nghĩ ngợi về hiền tài

Nguyễn Hùng Vĩ.

 

1.Hiền tài và trí thức.

Khi nghĩ đến “hiền tài”, ta nhớ ngay danh nhân Thân Nhân Trung (1418 (?) – 1499) đời Lê vì ông để lại tư tưởng giáo dục nổi tiếng: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết…” (Bia tiến sĩ khoa thi Nho học năm Nhâm tuất – 1442).

Cái năm thi mà Thân Nhân Trung cùng các quan bộ Lễ tiến hành soạn bi văn đó lại cũng là năm, một hiền tài bậc nhất lịch sử dân tộc - Nguyễn Trãi (1380(?) – 1442) – rơi đầu dưới Tiếng gươm khua, tiếng thơ kêu xé lòng (Tố Hữu).

Đứng trên đỉnh cao của tư tưởng ái quốc thân dân sau 20 năm Lam Sơn khởi nghĩa chiến thắng quân Minh tàn bạo, giành lại độc lập dân tộc, Nguyễn Trãi nhắc nhớ một định đề văn hóa cực kì quan trọng:

Duy ngã Đại Việt chi quốc

Thực vi văn hiến chi bang

(Như nước Đại Việt của ta

Thực là một nước văn hiến).

Không chỉ là sự khẳng định, tự hào, vinh danh…mà quan trọng hơn, nó tổng kết, nó phát ngôn một sự lựa chọn, một định hướng lịch sử của quốc gia này, của cộng đồng văn hóa này: lựa chọn văn hiến để bảo vệ độc lập, để khẳng định triều đại, để vượt qua thử thách, để phát triển quốc gia.

Trên thế giới, mỗi quốc gia, mỗi trung tâm, mỗi nền văn minh có những lựa chọn khác nhau: lựa chọn tôn giáo, lựa chọn kiếm cung, lựa chọn hàng hải, lựa chọn nông nghiệp, lựa chọn thực dân, lựa chọn thủ công… Và với những lựa chọn cơ bản đó, có nhiều nền văn minh đã không vượt qua được thử thách, vĩnh viễn mất đi trong trường kì lịch sử.

Nguyễn Trãi nhắc với chúng ta rằng: Chúng ta lựa chọn văn hiến. Và chúng ta đã tồn tại cho đến hôm nay bất chấp những thử thách chủ quyền luôn luôn hiện hữu.

Nằm trong vùng văn hóa Á Đông, hai chữ văn hiến được thấu hiểu vừa đặc biệt vừa đại đồng tiểu dị. Khổng Tử nói: “Hạ lễ, ngô năng ngôn chi, Kỷ bất túc trưng dã; Ân lễ, ngô năng ngôn chi, Tống bất túc trưng dã; văn hiến bất túc cố dã”, nghĩa là: Lễ nhà Hạ thì ta có thể bàn được, nhưng nước Kỷ (dòng dõi nhà Hạ) chẳng đủ làm bằng chứng; lễ của nhà Ân, thì ta cũng bàn được, nhưng nước Tống (dòng dõi nhà Ân) chẳng đủ để làm chứng. Ấy là vì văn hiến hai nước ấy không đủ vậy. (Luận ngữ - thiên Bát dật).

Chu Hy (đời Tống) chú: “Văn, điển tịch dã; hiến, hiền dã”, nghĩa là: Văn là điển tịch vậy; hiến là hiền tài vậy.

Hiền tài tức là người hiền (Tam tài giả, thiên - địa – nhân – Tam tự kinh). Đó là những người có đức hạnh, tài năng. Với nho giáo, họ được đào luyện theo triết lí giáo dục: để làm sáng cái đức sáng của trời đất, để gần gũi thương yêu dân, để đem cái chí thiện đi khắp nơi. Thực hành việc đào luyện theo tám cương lĩnh: cách vật (biết rõ ngoại vật khách quan), trí tri (thấu hiểu mối quan hệ của ngoại vật), thành ý (với quan niệm lấy thành thực hướng đạo tư duy), chính tâm (cái tâm ngay thẳng), tu thân (thường xuyên gắng gỏi trau sửa mình), tề gia (giúp cho gia đình hòa hảo), trị quốc (giúp cho nước thịnh trị), bình thiên hạ (giúp cho nhân loại thái hòa) (Sách Đại học).

Dẫu tư tưởng này đúc kết ở nho giáo nhưng không thể vì tính đặc thù mà phủ nhận giá trị phổ quát toàn nhân loại của nó. Trong ý nghĩa phổ quát, ta không e ngại việc hiểu khái niệm hiền tài có nhiều nét gần gũi với khái niệm trí thức (intellectuel) chân chính của thời kì hiện đại. Họ là những người được đào luyện, tự đào luyện để có chuyên môn, kĩ năng cao, để sáng tạo nên những giá trị tinh thần, hướng tới lí tưởng thượng tôn chân- thiện – mĩ, truyền bá lí tưởng đó cho cộng đồng và có đời sống cá nhân đức hạnh để thượng tôn lí tưởng đó.

Bồ tát hay thánh trong phật giáo, hiền tài hay đại hiền (người có tài đức rất lớn) trong nho giáo và trí thức hiện đại rõ ràng có những nét tương đồng trên đại thể.

Như vậy, cũng như trí thức chân chính, hiền tài luôn luôn là lực lượng tinh hoa của một cộng đồng. Họ giàu lí tưởng nhưng cũng từ đó họ có nhiều bi kịch.

2.Hai câu chuyện bi kịch.

Ở phương đông, không ai không biết đến bậc hiền tài tiêu biểu là Khuất Nguyên (140 – 278 trước công nguyên). Thiên Ngư phủ trong Sở từ kể rằng: Khuất Nguyên bị đuổi, lang thang trên bờ sông, ngâm rong trên trên bờ vũng, nhan sắc tiều tụy, hình dong gầy mòn. Lão chài trông thấy liền hỏi rằng: “Tam lư đại phu đó chăng? Vì sao nên nông nổi vậy?”. Khuất Nguyên trả lời: “Thế nhân đều đục, một mình ta trong. Mọi người đều say, một mình ta tỉnh. Vì thế mà bị đuổi đi!”. Lão chài nói: “Thánh nhân không câu nệ, mà tùy theo đời mà biến thông. Thế gian đục sao ông không khuấy bùn cho vẩn lên luôn. Mọi người say sao ông không uống tràn cho ngây ngất đi. Sao lại còn lo sâu làm cao để đến nỗi bị đuổi đi”. Khuất Nguyên nói: “Ta nghe rằng, mới gội đầu tất phải phủi khăn, mới tắm rửa tất phải giũ áo. Ai lại đem tấm thân trong vắt mà chuốc lấy nhớp nhơ của bụi. Thà nhảy xuống dòng Tương chôn vào bụng cá, chứ sao lại đem cái tiết sáng ngời mà vùi vào bụi bặm thế gian”. Lão ngư tủm tỉm cười, chèo thuyền mà biến, hát vang cả sông: “Thương Lang nước trong hầy… Thì ta giặt mũ. Thương Lang nước đục hầy…Thì ta rửa chân”. Chèo đi mất, không nói thêm gì”.

Sau này, đi đến sông Mịch La, Khuất Nguyên ôm đá mà trầm mình.

Khuất Nguyên là vậy. Cụ là hiền tài, chưa đạt đến đẳng thánh nhân. Hiền tài giữ đạo đức trong sạch, có trí tuệ “độc tỉnh” và khăng khăng với cái chân - thiện - mỹ đến thà thác trong còn hơn sống đục. Họ nhất quyết muốn giữa mùa lũ, biến sông đục nên trong. Còn Lão chài thì phát ngôn cái đạo thánh nhân: sông mùa trong thì ta làm sạch mũ, sông mùa đục thì ta làm sạch chân. Ta chuyển hóa để luôn luôn sạch mình. Việc gì quá câu nệ.

Nguyễn Trãi lại cũng chịu một bi kịch khác. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lí giải thảm án Lệ Chi viên bằng nhận định: “Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá”. Ông là một hiền tài tiêu biểu, một danh nhân văn hóa. Ông đã về ẩn nhưng tấm lòng thì Bui có tấc lòng ưu ái cũ/ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông. Ông cũng đi trốn sự ô trọc để như Lão chài Ngâm sách thằng chài trong thủa ấy/Tiếng trào dậy khắp Thương Lang. Nhưng rồi tai họa vẫn cứ đến. Biết mà vẫn bi kịch bởi ông là hiền tài.

3.Vậy, được đào luyện tri thức nhiều, đầy đủ bằng cấp chưa hẳn là một tri thức chân chính, có nghĩa chưa phải là một hiền tài. Chảy máu chất xám ra ngoài đâu lo bằng xuất huyết chất xám nội tạng. Phải là cái chân (thượng tôn sự thật, không định kiến, không a dua), là cái thiện (không vì bất cứ hoàn cảnh nào mà làm điều ác với đồng nghiệp, với nhân quần), cái mỹ (sự tốt đẹp của nhân cách, sự cống hiến), phải có nhân cách đạo đức mới là hiền tài. Trọng dụng hiền tài là trọng dụng những ai như vậy. Và chính những người như vậy mới là nguyên khí quốc gia.

Nguyên khí quốc gia ấy rất cần một môi trường, một hoàn cảnh, một điều kiện, một thiết chế hợp lí để họ sáng tạo tinh thần. Dân chủ và tự do là môi trường xã hội họ cần nhất. Họ cũng mưu cầu hạnh phúc như những người khác nhưng ở họ, các giá trị hạnh phúc có khác. Nếu ta hiểu các giá trị hạnh phúc phổ biến gồm: 1. Hạnh phúc của sự đáp ứng sức khỏe, tiện nghi, nền tảng vật chất; 2. Hạnh phúc của sự hiểu biết; 3. Hạnh phúc của sự tôn trọng lẫn nhau; 4. Hạnh phúc của sự sáng tạo tinh thần; 5. Hạnh phúc của sự tự do… thì với hiền tài, điều số 1 chỉ cần sự vừa đủ để làm việc. Họ chú trọng hưởng thụ hạnh phúc của 4 điều sau hơn hết. Họ thường dị ứng với sự đảo ngược chuẩn giá trị. Và thế là họ gàn, họ thiểu số, họ cô đơn.

Từ lịch sử trung đại đến hiện đại Việt Nam, đã có nhiều những thế hệ hiền tài đã làm nguyên khí cho đất nước này: Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/ Song hào kiệt đời nào cũng có (Nguyễn Trãi).  Cũng đồng thời với những bi kịch đời nào cũng có.

Bước vào thời kỳ không thể không đổi mới những năm đầu 1980, Tổng bí thư Trường Chinh lúc đó có chủ trương nổi tiếng mà nay Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vẫn nhắc lại với lực lượng trí thức như một lời kêu gọi cấp thiết: “Phải nói rõ, nói hết sự thật, gọi sự thật bằng đúng tên của nó”.

Đó là “chân”, một trong lí tưởng mà hiền tài tôn thờ. Từ cái chân thực đó mà có thể thực hiện thiện và mỹ. Mừng thay, lo thay. Có một chủ trương đúng đắn, chưa hiền tài sẽ xuất hiện hiền tài, chưa chân chính sẽ xuất hiện trí thức chân chính. Đa số đề tài sẽ không làm nặng thêm các kệ, tủ, giá sách nữa mà cơ bản hơn, khách quan minh bạch hơn, thiết thực cho vận mệnh đất nước hơn trong bảo vệ tổ quốc, hội nhập và phát triển đất nước. Nguyên khí quốc gia trông chờ vào những đổi mới kịp thời từ đó.

 

Top