Một thế kỷ các khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam đối diện với thực tế

Tóm tắt báo cáo:

Bài viết không nhằm trình bày một vấn đề chuyên môn cụ thể, mà nhằm đưa ra một cái nhìn, một quan điểm về lịch sử và hiện trạng của các khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam, có thể coi là một báo cáo đề cập tới vấn đề lịch sử khoa học. Trên cơ sở mô tả tổng trạng và dựa vào những mốc lớn của lịch sử các khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong một thế kỷ vừa qua, tuy không quên ghi nhận những thành tựu mà đội ngũ những người lao động trong lĩnh vực này đã đạt được, bài viết được xây dựng chủ yếu trên cảm hứng phê phán và tự phê phán, tự xác định mục tiêu chủ yếu là chỉ ra một số phương diện yếu kém, bất cập từ trong lịch sử và cả ở hiện trạng của lĩnh vực lao động mà tác giả là một người trong cuộc.

1. Trở về một điểm xuất phát: nhìn lại con đường thực tế Việt Nam đã trải qua từ đầu thế kỷ XX đi vào quỹ đạo hiện đại hóa của thế giới

1.1. Vào đầu thế kỷ XX, có hai nhân tố cùng giữ vai trò quan trọng có tác động quyết định đến cách thức, khuynh hướng và tốc độ vận động của xã hội Việt Nam gia nhập vào quỹ đạo hiện đại hóa, đó là cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương lần thứ nhất của thực dân Pháp và đợt sóng mới của tinh thần quốc gia - dân tộc kết tinh trong các phong trào hoạt động yêu nước và cách mạng. Để khai thác thuộc địa có hiệu quả, người Pháp phải gia tăng những nỗ lực nhằm nắm bắt được “thực chất” của cái xứ sở dù sao cho đến tận lúc bấy giờ vẫn còn quá nhiều điều xa lạ và bí ẩn ấy. Trong những nỗ lực ấy, có sự góp mặt của không ít những học giả, đến Đông Dương vừa với tư cách thực dân, vừa với tư cách là những người nghiên cứu. Để máu của những người yêu nước không chảy phí hoài, những yếu nhân của các phong trào đấu tranh giành lại độc lập cho quốc gia - dân tộc càng cần những nỗ lực to lớn hơn nữa để nhận ra và lựa chọn chính xác đường lối cho các tổ chức, các phong trào mà họ phát động.

Rút cuộc, cả người Pháp lẫn các nhà lãnh đạo của các phong trào yêu nước và cách mạng trong những năm bản lề giữa hai thế kỷ XIX – XX đều không đạt tới nhận thức chính xác và cụ thể về thực trạng Việt Nam. Bằng chứng vắn tắt cho một khẳng định như thế là: về phía chính quyền thực dân Pháp, chính sách cai trị, đồng hóa trực tiếp đổ vỡ, phải từng bước chuyển dần sang “chính sách hợp tác”; về phía các lãnh tụ của các phong trào yêu nước và cách mạng, thì cả sự lựa chọn đổi mới con đường đấu tranh vũ trang lẫn sự lựa chọn “ỷ Pháp cầu tiến bộ” đều không đưa tới những thành tựu cơ bản nào. (Trong hàng loạt các công trình nghiên cứu về xã hội Việt Nam dưới thời thuộc Pháp vài thập niên trở lại đây của các học giả Pháp đều toát lên sự khẳng định tính chất “thiếu hiểu biết” của chính quyền thực dân ở Đông Dương đối với đối tượng cai trị của họ. Chẳng hạn, Pierre Brocheux và Daniel Hémery trong Indochine la colonisation ambiguё (1858 – 1954) [Đông Dương cuộc thực dân hóa nhập nhằng 1858 – 1954], Édition La Découverte, 1994, đã giành cả một mục để bàn tới “tính không xác định kéo dài của mô hình chính trị và nền hành chính”, một mục khác lại bàn tới “một Nhà nước bất động” (un État immobile) của người Pháp ở Việt Nam, hay nhận xét về “một khía cạnh đáng ngạc nhiên” của chính sách của chính phủ Pháp (ở Việt Nam giai đoạn này – tôi thêm- TNV) là “tính thiếu dứt khoát của nó” trong công trình của nhóm tác giả Charles Fourniau – Trịnh Văn Thảo, Le contact colonial franco – vietnamien le premier demi – siècle 1858 – 1911 [Tiếp xúc thực dân Pháp – Việt nửa thế kỷ đầu tiên 1858 – 1911], Publication de l’Université de Provence, 1999, đã chứng tỏ.

Có thể nói trong nửa đầu thế kỷ XX chưa có một chủ thể nhận thức nào đặt ra vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc thực tại Việt Nam, và nếu có đặt vấn đề đó ra thì cũng chưa có khả năng tìm thấy câu trả lời đủ độ tin cậy. Khẳng định như vậy không có nghĩa là gạt bỏ hay hạ thấp những thành tựu nghiên cứu mà người Pháp - chủ yếu thông qua cơ quan khoa học “viễn chinh” của họ ở Đông Dương là Viễn Đông Bác cổ - đã tổ chức thực hiện, mà đơn giản chỉ để nhấn mạnh một sự thật, rằng tất cả các thành tựu ấy vẫn chỉ mới đạt tới những xác tín cục hạn trên một vài bình diện ít ỏi của cái thực thể đa chiều và phức tạp, còn xa mới bảo đảm cung cấp cho bất cứ ai một hệ thống tri thức toàn diện về Việt Nam. Khẳng định như vậy cũng tức là cho rằng tất cả các lực lượng và phong trào xã hội, các chủ thể quyền lực của chính người Việt, kể cả các đảng Cách mạng và chính thể Cách mạng, cho tới tận khi người Pháp rời Đông Dương vẫn chưa đủ thời gian, điều kiện và đội ngũ để thực thi có kết quả nhiệm vụ lịch sử vô cùng quan yếu ấy.

1.2. Mục tiêu hàng đầu, nếu không nói là duy nhất, của chủ nghĩa thực dân là nô dịch, bóc lột, khai thác thuộc địa. Với mục tiêu ấy, người Pháp không có nhu cầu mang tính sống còn (như đối với chủ thể quyền lực bản địa) phải nắm bắt, hiểu biết toàn diện xã hội và lịch sử Việt Nam, tuy họ cũng có nhu cầu hiểu đúng, và càng sâu càng tốt, xứ sở mà họ đã chiếm đoạt và cai trị, bóc lột đó. Các thế lực khác đến sau người Pháp, như người Nhật, người Mỹ đều không tiến hành những cuộc xâm lăng, chinh phục hay can thiệp dựa trên một sự hiểu biết thấu đáo đối với đối tượng bị chinh phục, bị xâm lược. Không kể sự có mặt ở Việt Nam (dường như chỉ được coi là sự mở rộng quy mô thôn tính châu Á một cách “đương nhiên”, “tiện thể” xét trong tính toán chiến lược toàn cầu) của quân phiệt Nhật, thì ba mươi năm mở rộng quy mô can thiệp của người Mỹ ở Đông Dương, từ chỗ đóng vai trò đại diện quân Đồng minh qua vai trò kẻ bảo trợ rồi đến vai trò kẻ thế chân cho thực dân Pháp ở Đông Dương nói chung, ở Việt Nam nói riêng cũng chưa bao giờ là kết quả của một quá trình nghiên cứu và thức nhận đối tượng tới một mức độ cơ bản cần thiết. Hẳn có thể, đối với tất cả các thế lực xâm lược, nô dịch đó, Việt Nam “nằm dưới tầm của những đối tượng nghiên cứu nghiêm túc”. Và như đã thấy, kết cục của một thái độ ngạo mạn kéo dài ấy là những thất bại mang tầm lịch sử thế giới. Cho đến nay, có thể trưng ra vô số những lời phàn nàn, lời sám hối muộn mằn từ chính cửa miệng hay dưới ngòi bút của các yếu nhân của những thất bại khổng lồ kia. Rất nhiều học giả lẫn chính khách Pháp/ Mỹ, trong số đó có cả những nhân vật từng chịu trách nhiệm cao nhất đối với những cuộc chiến ở Việt Nam thế kỷ XX, đều buộc phải thừa nhận, buộc phải đi tới những nhận định chung, trong đó nổi bật là sự thừa nhận tính thiểu tri của các thế lực thực dân, đế quốc ấy về xã hội và con người Việt Nam.

1.3. Nhưng chính người Việt cũng chưa thực hiểu đúng và đạt tới ngưỡng những tri thức cơ bản cần thiết về dân tộc và lịch sử của mình. Không bàn tới những thế lực mại bản, ngay trong phạm vi các phong trào và lực lượng yêu nước và cách mạng, các đảng phái và chính thể định vị mình với tư cách là những chủ thể của lịch sử và chủ nhân của xã hội, vẫn bộc lộ những khuyết thiếu, trong rất nhiều trường hợp là nghiêm trọng, những kiến giải và vì thế, những quyết sách xác đáng, tác động nghiêm trọng đến việc định hướng hướng phát triển tiếp tục của quốc gia - dân tộc. Có thể nhận định mà không sợ sai lầm rằng cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam thế kỷ XX là một kỳ tích trong lịch sử - cả đối với lịch sử dân tộc lẫn lịch sử nhân loại. Tương ứng với thành tựu đó, đúng hơn, một phương diện quan trọng làm nên thành tựu đó, là việc chủ thể của cuộc cách mạng đã hiểu và khai thác đúng hướng những giá trị, những tiềm năng của quốc gia – dân tộc. Nói tổng quát, thì đó là thành tựu hiểu và vận dụng đúng những đặc điểm liên quan đến tiềm năng sức mạnh dân tộc trong cuộc cách mạng giải phóng. Nhưng thế kỷ XX ở Việt Nam chưa cho thấy những thắng lợi, những thành công mang tính đột phá xã hội, những thành tựu then chốt liên quan đến khả năng hiện thực hóa mục tiêu tối hậu của một lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng con người. Điều cần nhấn mạnh từ góc nhìn này: hầu như ngay từ đầu, những bước đi chập chững, những sai lầm hay mặt trái của cuộc cách mạng, những xung đột và bất đồng từ ngay trong nội bộ của những thành viên, thành phần hữu cơ của các lực lượng cách mạng... như khẩu hiệu đấu tranh của Xô viết Nghệ Tĩnh, như sự bất đồng trong bộ phận lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Đông Dương những năm 1930 – 1938, những sai lầm trong cải cách ruộng đất, việc xây dựng một Cương lĩnh đậm đặc tính ý chí luận ngay sau thắng lợi vĩ đại 1975 (mà nay gọi một cách chung chung, vô thưởng vô phạt là “thời quan liêu bao cấp”), những sai lầm của các chiến dịch cải tạo công thương, kiểm kê tài sản bất minh... và cả cho đến nay vẫn bộc lộ rõ nết những lúng túng, mâu thuẫn trong hàng loạt những vấn đề lý luận then chốt có quan hệ sống còn tới bản chất của chủ thể lãnh đạo xã hội và thể chế, định hướng xã hội... tất cả những sự kiện và sự cố đó, những tỳ vết và nỗi đau đó đều có thể quy chiếu tới một trong những nguyên nhân cơ bản là sự thiếu hiểu biết một cách khá nghiêm trọng những quá trình vận động cụ thể - lịch sử của thực tế xã hội Việt Nam. Dưới các biến dạng khác nhau, những khuyết điểm và sai lầm vừa được dẫn dụ đó đều có thể coi là sản phẩm của một thực trạng nhận thức chưa đạt tới chân lý, từ phía khác, là sản phẩm của một lối suy diễn dù có hùng hồn hay tự tín, dù có mạ lên những lần vỏ khái niệm lý luận, thì xét đến cùng vẫn cần được nhận định là dễ dãi và đơn giản hóa, giáo điều máy móc hay công thức rập khuôn về tồn tại xã hội ở Việt Nam lẫn việc hiểu và nắm bắt chính xác các quá trình lớn của lịch sử nhân loại. Nếu lịch sử hiện thực của gần sáu mươi năm không diễn ra tình trạng đó thì đã không có một quá trình điều chỉnh kéo dài vài chục năm qua, và chắc chắn quá trình đó còn sẽ còn được tiếp tục lâu nữa, với tên gọi là đổi mới.

2. Sứ mạng của các khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam

2.1. Các khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam ra đời như thế nào và vốn được dùng làm gì?

Thật khó mà khẳng định chắc chắn, rằng kể từ buổi giao thoa Đông Tây dẫn đến sự xuất hiện của một thứ nghề nghiệp mới ở Việt Nam được gọi tên là nghề “làm khoa học”cho tới nay, thì ngành nào trong số các ngành của khoa học xã hội và nhân văn được “đăng ký trước bạ” sớm nhất. Tuy nhiên có thể nói hai lĩnh vực để lại những thành tựu đạt tới trạng thái “cổ điển” sớm nhất kể từ buổi Âu hóa, là thư tịch chídân tộc học, và điều đó không ngẫu nhiên. Nếu ta biết rằng, một trong những tác giả đầu tiên của văn học Việt Nam được người Pháp chú ý là Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm văn học Việt Nam đầu tiên được dịch sang tiếng Pháp là truyện Nôm Lục Vân Tiên, không chỉ dịch một lần bởi một dịch giả, mà dịch vài lần với những dịch giả và sự lựa chọn thể loại khác nhau, ta sẽ hiểu dụng ý hàng đầu của người Pháp khi dịch tác phẩm và mối quan tâm của họ đối với tác giả đó: trước hết họ muốn lĩnh hội và chuyển tải những “dữ kiện dân tộc học” chứ không phải đã có hứng thú đặc biệt, “mang tính mỹ học bất vụ lợi” với một tác giả, một tác phẩm văn học! Nói rộng ra, không phải vô cớ mà những công trình nghiên cứu về dân tộc học và về sau, nhân loại học của các học giả phương Tây lại chính là bộ phận quan yếu nhất làm nên chuyên ngành Đông phương học ở các nền khoa học “chính quốc”. Tuy nhiên, một khi phải kiến tạo hệ thống cho các ngành khoa học xã hội và nhân văn ở tầm một quốc gia có chủ quyền, độc lập, như là lĩnh vực này đòi hỏi phải thế, thì bộ ba các môn học “văn, sử, địa” (nhân thể, môn “địa lý” ở thuở manh nha buổi đầu chỉ có thể là địa lý nhân văn mà chưa phải là một chuyên ngành thuộc khoa học tự nhiên như đến thời điểm phát triển hơn về sau) lại nằm ở nền móng của cả hệ thống đó. Ở các trường Đại học có nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy các khoa học cơ bản, các khoa văn – sử bao giờ cũng là các khoa có sớm nhất, thậm chí, nếu chưa đủ điều kiện để chia tách thành hai ngành học riêng rẽ, thì văn - sử vẫn phải là nội dung chủ yếu trong chương trình học tập - và cả nghiên cứu nữa - của thầy và trò làm việc trong lĩnh vực khoa học xã hội.

Lần về quá khứ, lại cần nói rằng ở Việt Nam, hai ngành văn - sử vốn đã có truyền thống sâu gốc bền rễ, đã kịp phát triển thành hai lĩnh vực tri thức chủ yếu trong kho tàng kiến thức của dân tộc trước khi có cuộc tiếp xúc Đông Tây làm hình thành diện mạo và kếu cấu các lĩnh vực tri thức trong bức tranh phát triển khoa học thời cận - hiện đại, một kết cấu “mang tính Âu - Mỹ”. Nhà nho, tầng lớp trí thức cơ hồ duy nhất trong hơn một nửa thiên niên kỷ ở Việt Nam, nguồn lực nhân sự chủ yếu của bộ máy cai trị, là những người có tri thức thực sự chỉ trong hai lĩnh vực ấy – văn và sử.

Để có thể tổ chức và lãnh đạo những cộng đồng có tầm cỡ quốc gia - dân tộc, giới cầm quyền ở các cộng đồng hữu quan phải kiến tạo cho mình bằng được một (hay những) công cụ thống trị tinh thần, cái mà trong triết học gọi là hệ ý thức hay hệ tư tưởng. Nhưng có thực tế, là bất kỳ quốc gia nào cũng có tầng lớp (hay giai cấp) thống trị riêng, mà đỉnh chóp của chúng là các triều đại, song không phải bất kỳ, hay nói chung, đại đa số các triều đại như vậy lại hội đủ điều kiện để tích hợp khả năng hệ thống hóa tri thức (là thứ bao giờ cũng tồn tại với những đặc điểm là có khả năng tán phát và di truyền xã hội cực mạnh) để làm hình thành nên những hệ tư tưởng độc lập.Vậy nên trong lịch sử nhân loại, các hệ tư tưởng thường là thứ sản phẩm lai ghép từ nhiều nguồn gốc khác nhau, ở đó sự cộng sinh của các thành tố dị chủng hay chuyện vay mượn (từ vay mượn yếu tố đến vay mượn hệ thống) là hiện tượng phổ biến. Tình hình đó khiến cho hệ tư tưởng là loại sản phẩm ít có khả năng hoàn nguyên về chỉ một nguồn gốc mang tính dân tộc. Cũng từ thực tế đó mà từng nhiều phen trong lịch sử xuất hiện tình huống giữa các thực thể chính trị có chung nền tảng hệ tư tưởng vẫn nảy sinh những bất đồng, xung đột chính trị sâu sắc, thậm chí trong những trường hợp nhất định dẫn tới cả những xung đột vũ trang. Các nền văn minh lớn, về sau là các nước lớn, thường có vai trò “máy cái” trong việc sản xuất các học thuyết, các hệ thống triết học và hệ tư tưởng, nhưng ngay cả các nền văn minh hay các nước lớn như thế cũng không tự khép kín, không tự cung tự cấp đủ cho chính mình mọi yếu tố cần thiết để cấu thành nên một hay những hệ tư tưởng hoàn chỉnh.Vì lẽ đó, trong lịch sử tư tưởng, lịch sử triết học thế giới, các hệ tư tưởng thực thụ thường tác động trên quy mô xuyên/ liên dân tộc, nói cụ thể hơn, thường ở dạng hệ tư tưởng khu vực hay trong trường hợp thành công hơn, liên khu vực, trước khi xuất hiện những học thuyết có tham vọng phổ quát hóa ra toàn thế giới.

Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam đã thẳng thắn chỉ ra một trong những hạn chế của giới trí thức dân tộc là ít có những thành tựu và phong cách tư duy mang tính lý luận. Xét như đối tượng của một ngành, một lĩnh vực hoạt động sáng tạo tri thức, thì triết học và tư duy lý thuyết là thứ người Việt Nam không có nhiều để tự hào. Nhưng có vấn đề lớn xuất hiện khi hệ tư tưởng chủ yếu có nguồn gốc ngoại nhập thì về nguyên tắc bao giờ cũng được thể hiện ở vùng “đất mới” trong diện mạo hoặc ít hoặc nhiều bị khúc xạ, biến thái, xuyên tạc hay cải tạo.Trong những trường hợp đó, giới cầm quyền ở các quốc gia - dân tộc “nhập khẩu học thuyết” lại cũng thường có những nỗ lực để chí ít là “vận dụng một cách sáng tạo”, cao hơn, là có kỳ vọng “bổ sung làm phong phú thêm” các học thuyết được nhập cảng đó. Cá biệt, có những học thuyết, những hệ tư tưởng được nhập khẩu rồi chế tác lại, “cải tạo và phê phán” đến mức thành ra một hệ tư tưởng khác, một mô hình lý thuyết khác. Ý đồ của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam hướng tới việc nỗ lực mong tìm thấy những đặc trưng của Phật giáo, Nho giáo, sự kết hợp Tam giáo theo “cách riêng” của Việt Nam qua tương tác với các yếu tố bản địa trong thời quân chủ chuyên chế hay nỗ lực để đề xuất nên những đặc thù của hệ tư tưởng tư sản, hệ tư tưởng vô sản trong giai đoạn Âu hóa, hiện đại hóa xã hội có cơ sở từ thực tế khách quan như thế. Mức độ chân thực của các kết quả tìm kiếm ấy đến đâu lại là chuyện khác. Chỉ có điều phải lưu ý, một học thuyết không bao giờ là chính nó nếu nó được di thực và bứng trồng vào những môi trường xã hội vốn mang sẵn những đặc trưng quá khác biệt về cấu trúc và quá trình phát triển kinh tế - xã hội – lịch sử so với ở nơi mà học thuyết đó được đề xướng nên, ở nơi, nói một cách chặt chẽ, chỉ với những điều kiện tương ứng nó mới thực sự xứng đáng để được coi là tri thức lý luận, sản phẩm trừu tượng hóa nhận thức từ một/ những thực tiễn xã hội – lịch sử cụ thể cho trước.

Toàn bộ tồn tại lịch sử của thực thể Việt Nam đòi hỏi việc khái quát “từ nó và cho nó”nên những luận điểm và thành tố lý thuyết mới, nhưng cho đến nay, nói một cách thẳng thắn và sòng phẳng, những đúc kết lý thuyết ấy còn chưa được tiến hành tới ngưỡng khả tín cần thiết. Triết học và các ngành khoa học “cận triết học” khác ở Việt Nam vẫn tồn tại lơ lửng đâu đó trong một trạng thái hoặc không trọng lượng, hoặc bị nhận mặt là con lai, trong khi cộng đồng vẫn bị níu lại bởi tâm thế khó cởi mở với những sinh linh “khác máu tanh lòng”!

Du nhập những bộ khung lý thuyết tối giản của các ngành khoa học xã hội và nhân văn từ nguồn gốc Âu Mỹ, rồi không nhận được sự liên tục bổ sung các tri thức lý luận và phương pháp làm việc hoặc bổ sung một cách chiếu lệ, gặp chăng hay chớ, khá nhiều chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam, như những đứa trẻ vừa bị sinh thiếu tháng vừa bị nuôi thiếu chất trầm trọng, lâm vào một quán tính vô tích sự xã hội thường trực. Tình trạng lạc hậu và lạc lõng của các khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam nếu mang so sánh với tiềm năng tiếp cận hòa nhập với trình độ thế giới của các lĩnh vực khoa học tự nhiên hay thậm chí một số khá lớn các ngành kỹ thuật là điều không thể không báo động.

Nếu được tổ chức và khai thác có hiệu quả thực sự, các khoa học xã hội và nhân văn sẽ trở thành nguyên động lực cho việc định hướng và giữ nhịp cho các quá trình vận động xã hội hiện thực, nghĩa là trở thành một công cụ nhận thức mạnh mẽ cho giới lãnh đạo xã hội đương quyền, cũng có nghĩa là đóng một vai trò chính trị trực tiếp, đồng thời với việc tìm kiếm nguyên liệu và năng lượng xã hội cho các quá trình phát triển xã hội vị lai, nghĩa là trở thành nguồn lực cho các lực lượng chính trị - xã hội trong tương lai.

Trên thực tế, cho tới nay chưa bao giờ các khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam được và tự phấn đấu để giành được một địa vị như thế. Minh họa các kết luận chính trị bằng các chất liệu, các dữ kiện khoa học hóa, thậm chí đón ý và phụ họa các định kiến của những nhân vật quyền lực nào đó đã kịp trở thành “tác phong khoa học” không quá lạ lẫm ngay ở các đại diện của cả một số ngành vốn được coi là “mũi nhọn”. Vài chục năm nay xuất hiện loại hiện tượng chưa hẳn lương thiện hơn nhưng chắc chắn vô vị hơn: trưng bày những diện mạo có vẻ “khách quan, uyên bác”, “chuyên nghiệp hóa”, khai thác tâm lý hiếu kỳ và sùng thượng khoa học, nhưng không dẫn các kết quả tới những mục tiêu thật sự rõ ràng.

2.2. Xác định lại địa vị của các khoa học xã hội - nhân văn trong hệ thống các khoa học ở thời điểm hiện thời trở nên là một công việc cấp thiết, không những chỉ đối với những người theo đuổi chuyên môn hẹp là nghiên cứu, giảng dạy, học tập các khoa học đó, mà còn có ý nghĩa quan trọng hơn nữa đối với toàn bộ chu trình tiếp theo của lịch sử xã hội.

Có một định kiến, ít nhất lưu hành trong vô thức của giới chuyên gia của các lĩnh vực chuyên môn hẹp thuộc các khoa học tự nhiên và kỹ thuật, rằng “nói trắng ra, các lĩnh vực được gọi là khoa học xã hội – nhân văn không phải là những khoa học đích thực”. Bởi không ai chính thức nói và viết thành “giấy trắng mực đen” những lời như vậy, càng không có bất cứ cơ quan có thẩm quyền xã hội nào khẳng định điều ấy, nên định kiến ấy chỉ có thể lưu hành một cách “dân gian”, nhưng với những gì lưu trong cảm nhận cá nhân, tôi cho rằng đó là một định kiến có quy mô ảnh hưởng sâu rộng, gieo rắc những sai lầm và gây họa khủng khiếp! Tôi không bịa đặt, không vu khống hay nghiêm trọng hóa chuyện tồn tại một định kiến như thế, mà đã trải nghiệm nó một cách nhức nhối qua cả một thời gian dài, qua cửa miệng của nhiều người, hoặc họ là bạn bè làm việc trong phạm vi các khoa học tự nhiên – kỹ thuật, hoặc nhiều hơn nữa trong giới trẻ chuẩn bị chọn nghề nghiệp khi bước vào đời. Định kiến đó chỉ bị thu hẹp hoặc trở nên lố bịch trong môi trường nào văn hóa khoa học cao, có thể rất mờ nhạt hay thậm chí không tồn tại ở các nước có trình độ dân trí phát triển. Rất đơn giản, ở những môi trường như vậy, người ta có điều kiện để kiểm chứng sòng phẳng và tức khắc việc thiếu vắng những hiểu biết có hệ thống và cơ bản các lĩnh vực tri thức thuộc khoa học xã hội và nhân văn đã / hay sẽ mang lại những hậu quả gì.

Nhưng nguyên nhân của một thái độ mang tính định kiến, kỳ thị đối với các khoa học xã hội và nhân văn như thế ở những nước như nước ta không thể chỉ được tìm thấy từ “bên ngoài”, mà trước hết phải được nhận ra từ bên trong bản thân đội ngũ những người theo đuổi các lĩnh vực này lẫn những thành tựu khá “khiêm tốn” – từ đó dẫn đến địa vị tinh thần cũng khá “khiêm tốn”- mà các khoa học ấy đạt tới. Hegel từng nhận xét rằng các định kiến trong nhận thức vừa thể hiện ra ở các thời điểm cụ thể như là “chân lý của thời đại”, vừa như những giới hạn cần và chắc chắn phải bị vượt qua. Việc vượt thoát khỏi những định kiến như thế phụ thuộc trước hết ở khả năng tự trưởng thành của các “đối tượng” bị định kiến đó đeo đẳng.

Độ phức tạp, độ khó của một đối tượng nghiên cứu quy định trước thành tựu, quy định cả những trở ngại trên đường đạt tới thành tựu của lĩnh vực khoa học tương ứng. Cho đến nay, có lẽ bất cứ ai cũng dễ dàng đồng ý rằng, xét theo trục tiến hóa, giới tự nhiên vô cơ “đơn giản” hơn giới tự nhiên hữu cơ, nhận thức về các đối tượng “sống” khó khăn hơn về các đối tượng không sống, đến lượt chúng, cái sinh học dễ nhận thức hơn cái xã hội. Các khoa học lấy tinh thần (các dữ kiện và quá trình phi vật thể) làm đối tượng nghiên cứu là các khoa học có quá trình vận động tới trạng thái điển phạm lâu dài nhất. Con người, xét về mặt sinh học, vật lý học, cho đến nay, là thực thể vật chất tiến hóa phức tạp nhất được biết tới, xã hội con người là trạng thái được kiến tạo phức hợp nhất và tồn tại nhiều khoảng mơ hồ khó hình dung và chế ngự nhất. Hệ quả đương nhiên của thực tế đó là “độ dung sai” trong kết quả nghiên cứu ở các khoa học xã hội và nhân văn xuất hiện với quy mô và tính chất “nghiêm trọng” hơn nhiều nếu so sánh với kết quả của các khoa học tự nhiên hay kỹ thuật. Có lẽ đã ý thức mạch lạc về thực tế đó, mà Biêlinxky từng cảnh báo đại ý: Không nên và không thể đòi hỏi ở các khoa học xã hội sự chính xác kiểu của khoa học tự nhiên, nhưng chỉ những người đã kinh qua sự chặt chẽ, chính xác của khoa học tự nhiên mới đủ thẩm quyền bước vào khoa học xã hội. Hẳn rằng thực tế việc lựa chọn nghề nghiệp và ý thức xuyên suốt quá trình hành nghề ở các công bộc (tự nguyện hay bất đắc dĩ) của các khoa học xã hội và nhân văn sẽ cung cấp cho ta nhiều bằng chứng của việc không biết tới/ không tuân thủ lời cảnh báo đó. Lạm dụng “độ dung sai cho phép” đến mức tự thỏa mãn với những kết quả sơ bộ, gây ra ảo tưởng về “tính tương đối tuyệt đối của việc tiếp cận chân lý” trong các khoa học xã hội và nhân văn, có lẽ đó là trách nhiệm lớn nhất mà những người lao động trong các chuyên ngành này phải nhận lãnh trong việc tạo ra định kiến tai hại nói trên. Nhấn mạnh những khó khăn thường dễ dàng bắt gặp trong các khoa học xã hội và nhân văn đối với chúng tôi không phải để tìm kiếm lời biện hộ, càng không phải để tự thổi phồng lĩnh vực lao động của mình, mà đơn giản đó là lời tự nhủ hướng nội để buộc chính mình phải nỗ lực hơn nữa.

Trong thời đại ngày nay, ở một xã hội cụ thể, trạng thái yếu kém của các khoa học xã hội và nhân văn sẽ dẫn đến những hệ quả to lớn, bởi chỉ qua các khoa học xã hội và nhân văn mà một xã hội tự trình hiện mình, tự ý thức về chính mình một cách đích thực nhất. Số phận của một cá nhân cho đến một tập đoàn kinh tế có thể được quyết định chỉ bởi một hay một vài sáng chế, phát minh, phát kiến khoa học, nhưng số phận của một cộng đồng lại chỉ có thể được xác định thông qua hàng loạt những tương tác kinh tế, chính trị, văn hóa và đạo đức phức tạp, cả theo chiều hướng nội lẫn theo chiều hướng ngoại. Mục tiêu tối hậu của các khoa học xã hội và nhân văn là hướng tới cộng đồng, nghiên cứu con người và xã hội bằng hệ quy chiếu cộng đồng để phục vụ cộng đồng. Không biết có phải là một nhận xét nhầm lẫn không, nhưng tôi cho rằng khác với những hoạt động sáng tạo nghệ thuật hay những tìm tòi trong các khoa học tự nhiên thường dễ dàng tìm thấy nhiều hứng thú và cảm hứng tự thân, trong quá trình sáng tạo thường xuất hiện rõ nét yếu tố tự thưởng ngoạn, tự chiêm nghiệm, những người làm việc trong các khoa học xã hội thường phải tìm nguồn cảm hứng hỗ trợ từ chỗ nhận thức rõ về ý nghĩa xã hội của công việc mình đang theo đuổi. Tương tác tạo nên sức mạnh phát triển bền vững giữa các khoa học tự nhiên, kỹ thuật với các khoa học xã hội và nhân văn ngày nay đã không chỉ được các chính phủ, các thể chế xã hội – nhà nước biết tới, mà cũng đã kịp trở thành phương châm tồn tại của các hãng, các tổ hợp, tập đoàn kinh tế nổi tiếng trên thế giới. Mở rộng phạm vi quan tâm sang các lĩnh vực văn hóa, khoa học xã hội nhân văn hay nghệ thuật, đó không phải là những hoạt động đánh bóng tên tuổi hay mang tính chất từ thiện, mà quan trọng hơn, các hãng, tập đoàn, tổ hợp ấy đang tạo ra một sự tự chuyển đổi bản chất bên trong, biến mình thành những thực thể xã hội đa chiều và ổn định lâu dài, thành những cộng đồng xã hội hoàn chỉnh, chứ không còn đơn thuần là những “cơ sở sản xuất kinh doanh” như chúng là thế mấy chục năm về trước.

3. Thay cho lời kết

Có lẽ đã có quá nhiều sự mạo muội, quá nhiều những nhận xét, nhận định “vượt phận”, cho dù bài viết này, trong ý thức chủ quan của tác giả, mới chỉ là việc thốt ra những lời chẳng đặng đừng. Dẫu sao, dù bậc thánh nhân xưa có dạy rằng “bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính”, dân gian cũng từng giễu cợt những thân phận “gái góa lo chuyện triều đình”, nhưng cũng chính bởi bậc thánh nhân ấy cũng có khuyến dụ rằng “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, mà dân gian cũng có lời động viên đối với những ai thấy sóng cả mà không ngã tay chèo, tôi cứ muốn nêu lên một nhận xét, cũng có thể coi là lời chất vấn sau cùng này: có hay chưa ở Việt Nam một quy hoạch xứng tầm quốc gia đối với những vấn đề hết sức then chốt mang tính chiến lược của sự tồn tại và phát triển của các khoa học xã hội và nhân văn?


Hà Nội tháng 4/2006

Nguồn: Một phần bài viết đã in trên tạp chí Tia sáng, số 14, ngày 20.7.2006; bản đăng trên talawas là toàn văn của bài viết.
Top