Đọc Trường ca Cuộc chiến mười ngàn ngày của Hữu Đạt - Trần Hinh

BBT: Trường ca Cuộc chiến mười ngàn ngày do Nxb CAND xuất bản năm 2015. Sách vừa ra đời đã được nhiều tờ báo khác nhau giới thiệu. Để giúp sinh viên tham khảo, Khoa Văn học trân trọng giới thiệu bài viết của thầy Trần Hình và trích đoạn  (3 chương) của trường ca.

 

 

ĐỌC TRƯỜNG CA

CUỘC CHIẾN MƯỜI  NGÀN NGÀY CỦA HỮU ĐẠT

                          Trần Hinh
                              Giảng viên Khoa Văn học
                                     ĐHKHXH& Nhân văn. ĐHQG Hà Nội

 

Cách đây chưa lâu, vào khoảng những ngày cuối năm 2013, Hữu Đạt cho ra mắt tập thơ Lữ hành, gây sự ngạc nhiên không ít ở người đọc quen biết anh. Việc một người bấy lâu nay chuyên viết văn xuôi bất ngờ chuyển sang viết thơ, thật ra cũng không có gì lạ. Nhưng nếu ai quen biết Hữu Đạt, biết anh vốn là một chuyên gia ngôn ngữ giảng dạy ở bậc đại học, đã để lại hàng chục đầu sách nghiên cứu, vào lúc tuổi không còn trẻ, bỗng làm thơ như chạy đua với thời gian, thì sự ngạc nhiên âu cũng là điều dễ hiểu. Thế nhưng còn ngạc nhiên hơn, chỉ ngay sau một thời gian rất ngắn (hơn nửa năm), anh lại đã có ngay bản thảo tập trường ca Cuộc chiến mười ngàn ngày, thì quả là ngạc nhiên thật.

Trường ca, vốn là một thể loại thách thức với nhiều người vì nó đòi hỏi ở người viết vốn sống dồi dào, cảm xúc mãnh liệt và một sự am hiểu nhất định về thể loại. Vậy nên khi biết Hữu Đạt có “âm mưu” nhảy vào địa hạt trường ca, ban đầu quả thật tôi không tin. Phải đến tận khi cầm trên tay bản thảo Cuộc chiến mười ngàn ngày của anh, tôi mới vỡ lẽ, thì ra với Hữu Đạt không gì là không có thể. Càng thán phục hơn khi biết rằng, ở giữa cái thời buổi “cơm áo không đùa với khách thơ” như hiện nay, một nhà giáo,  sau những thành công ở địa hạt truyện ngắn, sân khấu, điện ảnh và tiểu thuyết, chỉ trong một thời gian ngắn, lại cho trình làng một lúc tới hai tập thơ “nghiêm ngắn”, tôi nghĩ, nếu không thật sự say mê tâm huyết, thì không thể có được thành công đó.

Trường ca là một thể loại văn học tương đối đặc biệt nằm giữa hai phương thức sáng tác tự sự và trữ tình. Nó vốn không phải là thế mạnh trong sáng tác văn chương ở nước ta. Bằng cứ cho thấy là, thành tựu trong thơ ca nói chung của người Việt có thể dẫn ra được khá nhiều, nhưng thành tựu trong trường ca thì lại là rất hiếm. Đó là một thực tế. Rõ ràng văn học Việt Nam có rất nhiều nhà thơ, số các nhà thơ từng thử sức mình trong trường ca, có thể nhiều hơn con số mười, nhưng tác phẩm của họ nhận được sự hưởng ứng từ phía người đọc lại khó vượt qua con số đó (Tố Hữu, Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Việt Chiến, Trần Mạnh Hảo, Thi Hoàng, Anh Ngọc, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Anh Thái). Rõ ràng, trường ca là một thách thức nghiêm khắc với các nhà thơ. Bước vào địa hạt này, như đã nói, người làm thơ ngoài vốn kinh nghiệm đời sống, văn học (có sự hiểu biết sâu về mặt thể loại), còn phải khẳng định được trữ lượng cảm xúc với thời cuộc, “sự trường vốn”, giống như một doanh nhân lớn trên con đường doanh thương (dám chấp nhận cả thất bại). Thiếu một trong những yếu tố đó, sẽ thật khó có được sự thành công trong mảng sáng tác này. Chúng tôi nghĩ, là một người từng sáng tác trên nhiều lĩnh vực (sân khấu, điện ảnh, văn xuôi), bắt tay viết Cuộc chiến mười ngàn ngày, Hữu Đạt hẳn đã biết lượng sức.

Cuộc chiến mười ngàn ngày được cấu trúc thành 12 chương, bắt đầu với “Khát vọng mùa thu” (chương 1), qua “Ngày toàn quốc kháng chiến” (chương 2), “Mãi mãi Điện Biên” (chương 3), “Khi chúng tôi lớn lên” (chương 4), “Cuộc đối đầu lịch sử” (chương 5), “Những người Mẹ” (chương 6), “Mái trường đại học” (chương 7), “Những ngôi làng” (chương 8), “Trận đánh cuối cùng” (chương 9), “Đất nước chuyển mình” (chương 10), “Thách thức” (chương 11) và cuối cùng là chương mang tên “Thế hệ chúng tôi” (chương 12). Nhìn vào nhan đề các chương, Cuộc chiến mười ngàn ngày, có thể được xếp vào loại trường ca lịch sử. Bởi lẽ từ đầu đến cuối, những sự kiện được đề cập trong các chương gần như ôm trọn lịch sử của đất nước từ ngày Cách mạng Mùa thu, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, đến tận khi đất nước đã hoàn toàn thống nhất, đang trong dựng xây và hội nhập. Với thể loại trường ca, tôi cho rằng, cái khó khăn lớn nhất với các tác giả, đó là cấu trúc. Viết một bài thơ ngắn chỉ đòi hỏi người cầm bút có được xúc cảm dồi dào, một tác phẩm văn xuôi thì lại cần vốn sống, với một trường ca, người ta cần cả hai khả năng đó. Nếu không làm chủ được cảm xúc, tác phẩm của anh chỉ chơi vơi, nhưng nếu không làm chủ được cấu trúc, một bản trường ca sẽ “loạn nhịp”, người đọc sẽ khó lòng hiểu được ý đồ tác giả. Một bản trường ca hay, ngoài sức cuốn hút của các câu thơ, còn phải “neo” được trong lòng độc giả vẻ đẹp, sự chặt chẽ về mặt cấu trúc. Do bản thân trường ca thuộc phương thức tự sự, nghĩa là có yếu tố kể, có một câu chuyện, nên nếu cấu trúc lỏng lẻo, hoặc thậm chí không có cấu trúc, tác giả sẽ không biết dẫn dắt câu chuyện như thế nào. Để kiểm chứng vấn đề này, chúng ta hãy thử khảo sát các bản trường ca nổi tiếng trên thế giới, Iliat, Odyxe của người Hy Lạp, Ramayana và Mahabharata của Ấn Độ, Trường  ca Roland của Pháp…Tất cả các bản trường ca này đều đưa đến cho người đọc những câu chuyện rất hấp dẫn, thú vị, chính nhờ chúng có một cấu trúc chặt chẽ.

Ở Việt Nam ta, khái niệm trường ca chỉ bắt đầu xuất hiện trong khoảng những năm 50 của thế kỉ XX. Theo hai tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức, thì “trường ca là hình thức thơ tự sự, ít nhiều dựa trên phương thức tự sự …. Trường ca còn là hình thức truyện thơ, nhưng không phải truyện thơ nào cũng là trường ca hoặc có màu sắc trường ca.. Nội dung của trường ca thường gắn liền với các phạm trù thẩm mĩ về cái đẹp, cái hùng, cái cao cả. Trường ca thường có cốt truyện không hoàn chỉnh”. Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến cũng khẳng định: “Trường ca là một thể loại lớn với hai nghĩa: có dung lượng lớn và mang nội dung lớn”; và “Tương quan giữa nguyên tắc trữ tình và nguyên tắc tự sự là một vấn đề trung tâm của thi pháp trường ca”. Một chút liên hệ như vậy để chúng ta thấy được, tại sao các nhà nghiên cứu lại khẳng định, sáng tác trường ca là sự thách thức với tất cả các tác giả.

Trở lại với cấu trúc Cuộc chiến mười ngàn ngày của Hữu Đạt, có thể khẳng định đây là bản trường ca được cấu trúc theo mạch sự kiện lịch sử đất nước. Như chúng tôi đã nói ở trên, với 12 chương của bản trường ca, tác giả Hữu Đạt có ý “ôm trọn” lịch sử đất nước kể từ ngày đầu (mùa thu Cách mạng) đến thời điểm hiện tại (đất nước giải phóng và đang trong quá trình dựng xây, hội nhập). Từ một góc độ khác, trong 12 chương của bản trường ca, ta lại bắt gặp một số chương trong Cuộc chiến mười ngàn ngày tách ra khỏi mạch sự kiện lịch sử, đào sâu vào mạch cảm xúc cá nhân. Có khi đó là cảm xúc về “những người Mẹ” (chương 6); khi thì cảm xúc về “những ngôi làng”; và có khi đó lại là những chiêm nghiệm cá nhân từ góc nhìn thế hệ: “Khi chúng tôi lớn lên/ Vùng chiến tuyến vẫn còn phi chiến sự”, “Chúng tôi lớn lên/ Mây thổn thức giữa đôi bờ ước vọng/ Những bãi bồi nổi những giấc mơ xanh”, “Chúng tôi lớn lên/ Hiểu đất nước qua những bài lịch sử/ Mẹ Âu Cơ sinh bọc trứng trăm con”… Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong trường ca Mặt đường khát vọng khi viết về Đất Nước cũng bám vào sự vận động ý thức của thế hệ trẻ thành thị miền Nam hướng về nhân dân, về dân tộc trong những ngày chống Mĩ. Chương 5 bản trường ca Mặt đường khát vọng của ông bắt đầu bằng câu: “Khi chúng tôi lớn lên Đất Nước đã có rồi”…), và cả bài thơ cứ đi theo mạch cảm xúc đó. Tôi cho rằng, Hữu Đạt cũng giống Nguyễn Khoa Điềm ở đặc điểm này: khi viết về đất nước, cả hai đều tìm một điểm tựa từ góc nhìn của một thế hệ cụ thể nào đó (chúng tôi), với Nguyễn Khoa Điềm “chúng tôi” còn rất trẻ, với Hữu Đạt, “chúng tôi” lớn lên cùng sự lớn lên của đất nước, nhân dân.  Xét trên phương diện ấy, ý tưởng của Hữu Đạt quả là rất lớn. 

Bám sát mạch sự kiện lịch sử của dân tộc, Cuộc chiến mười ngàn ngày mở đầu bằng cảm xúc những ngày mùa thu trước Cách mạng (139 câu), qua cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp (333 câu), lưu lại với “mãi mãi Điện Biên” (227 câu), tiếp tục bằng cuộc đối đầu lịch sử với đế quốc Mĩ (143 câu) đi đến Trận đánh cuối cùng (203 câu) và kết thúc bằng Đất nước chuyển mình. Nếu coi Cuộc chiến mười ngàn ngày là một bản trường ca lịch sử, thì tôi nghĩ với chừng ấy câu thơ bám sát đến tận cùng những sự kiện lịch sử lớn của dân tộc, Hữu Đạt đã hoàn thành trách nhiệm của mình. Hàng trăm câu thơ được viết bằng cảm xúc của một chàng trai sinh ra và lớn lên ở một ngôi làng thuộc đồng bằng Bắc Bộ vào những ngày đất nước chiến tranh,đã toát lên được giọng điệu “hào sảng” của một bản trường ca thứ thiệt. Không giống với một vài thể loại văn chương, trường ca ít nhiều có hơi hướng sử thi (épopée), nên người đọc dễ nhận thấy giọng điệu “sang trọng” toát ra từ câu chữ. Thật khó có thể thống kê hết những ví dụ về các câu thơ mang giọng điệu hào sảng như vậy trong cả tập trường ca Cuộc chiến mười ngàn ngày, nhưng chỉ cần lướt qua chương Mở đầu “Khát vọng mùa thu”, ta đã thấy được dáng dấp “hùng tráng” của nó. Khúc mở đầu (gần bằng dung lượng bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu), giống như một cuốn sử ngắn gọn về những ngày đen tối nô lệ của dân tộc Việt Nam. Chỉ với 139 câu/dòng thơ, Hữu Đạt đã cung cấp cho người đọc nhiều sự kiện lịch sử: những cuộc giao tranh không cân sức với kẻ thù, những vị anh hùng mà ngày nay mỗi người dân Việt Nam đều không thể nào quên, những thời khắc lịch sử quan trọng khi dân tộc mở ra một trang sử mới. Hữu Đạt chọn hình thức thơ theo thể tự do. Đó cũng là sự lựa chọn tất yếu khi mạch cảm xúc bài thơ rõ ràng đi theo hướng này. Lịch sử đất nước những ngày đầu tiên xen kẽ, tương phản trên bảng pha màu trắng/đen, sáng/ tối, bi/ hùng, rên xiết đau thương, nhưng cũng thiết tha tình cảm. Việc lựa chọn hình thức câu thơ là tùy thuộc vào nội dung cảm xúc đó. Chẳng hạn, 4 câu mở đầu được tác giả viết theo thể thơ 9 chữ: “Gần một trăm năm trong xích xiềng nô lệ/ Dân tộc ta nghèo trong đói rách thương đau/ Đất nước lầm than qua bao nhiêu dâu bể/ Trai gái yêu nhau nên điệu lí qua cầu”. Câu thơ dài hơn so với bình thường cũng là cách để tác giả tạo được xúc cảm da diết hơn khi muốn nói về “những nỗi đau” và “những nỗi thương” một thời của dân tộc. Trong khi đó ở đoạn thơ nói về ý chí quật cường của những người cộng sản trong cuộc đấu tranh chống quân thù, nhà thơ lại chuyển sang một hình thức thơ hoàn toàn khác, câu thơ tự do hơn (trong câu chữ), rắn rỏi hơn và cũng cương quyết hơn:

Những trái tim son sắt với màu cờ

Người cộng sản trung kiên

Không bao giờ gục ngã

Trước bạc tiền

Không thể bị bán mua

Bao đồng chí hi sinh

trong lao tù vẫn hát

Những tấm gương

muôn thuở vẫn chói ngời

Dù thân dẫu  tan vào trong đất

Mà hồn còn thiêng mãi núi sông ơi!

Tác giả có ghi chú ở ngay trên đầu đoạn thơ đây là hình một chiếc đồng hồ cát. Quả thật tôi chưa có đủ thời gian và trình độ để thẩm định những câu thơ viết theo hình vẽ, một thể nghiệm độc đáo của Hữu Đạt trong bản trường ca này (kể cả trong tập thơ Lữ hành xuất bản trước đó) tạo được hiệu quả bao nhiêu cho những nội dung cần phản ánh của anh, nhưng cứ nhìn trên hình thức văn bản, tôi nghĩ đó có lẽ cũng là một trong những đóng góp của nhà thơ vốn xuất thân từ một chuyên gia ngôn ngữ. Nhân đây cũng muốn xin được nhắc lại, ngay từ tập thơ Lữ hành Hữu Đạt đã có vẻ rất “chăm chỉ’ sáng tạo kiểu thơ thị giác. Trong tác phẩm thơ này, anh đã có khá nhiều bài viết theo kiểu hình họa. Và trong bản trường ca “ Cuộc chiến mười ngàn ngày”, sự  sáng tạo này trong thơ của anh lại càng “đậm đặc” hơn. Tôi đã thống kê được trong tập trường ca Cuộc chiến mười ngàn ngày có 39  đoạn thơ được viết theo kiểu thị giác với nhiều hình họa khác nhau khá ấn tượng. Đó là: hình cái ly có chân,  hình mái nhà rông hình cái hũ  đựng gạo,hình bầu rượu,hình cái bình cổ, hình lọ hoa, hình chiếc ly lớn, hình chìa khóa, hình con quay, hình đồng hồ cát, hình chiếc lư đồng, hình cây Thánh giá,hình lọ lộc bình, hình ngọn nến, hình giọt lệ, hình ngọn đuốc,  hình mũi tên, hình trống đồng, hình cây rơm  hình ngọn nến, hình tháp xuôi.hình cây rơm, hình bản đồ Việt Nam … .Một sự kì công tạo nên các hình họa dày đặc như vậy của tác giả không thể không khiến người đọc phải chú ý. Khi bàn về thơ hình họa (hay thơ thị giác) trong lịch sử thơ ca nói chung, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng, trong hoàn cảnh cụ thể, nhất thời, viết thơ theo kiểu hình vẽ cũng có thể mang đến cho người đọc những ấn tượng mới mẻ, thú vị. Thay vì người đọc bấy lâu nay chỉ chăm chú “đọc thơ”, thì nay khi tiếp xúc với thơ từ góc độ hình họa, họ có cơ hội được “xem một bài thơ”. Với cách “đọc này”, những chữ viết tưởng như “vô hình” giờ đã biến thành một bức tranh hay một đoạn phim (như trong điện ảnh). Tôi nghĩ rằng, sự pha trộn loại hình nghệ thuật như thế cũng là một hướng đổi mới sáng tác nghệ thuật hiện nay. Vào những năm đầu thế kỉ XX, trong văn học Pháp, cùng thời kì xuất hiện trường phái hội họa lập thể của Picasso, trong văn học cũng xuất hiện một trường phái thơ hình vẽ (Calligramme), mà tiêu biểu nhất là nhà thơ Apollinaire, tác giả của bài thơ nổi tiếng Cầu Mirabeau. Hữu Đạt trong trường ca Cuộc chiến mười ngàn ngày còn tốn nhiều công sức hơn cho “cuộc chơi” này. Và tất nhiên cũng giống như Apollinaire, cũng có những bài thơ hình họa của anh chỉ thuần túy là một trò chơi hình thức. Nhưng có những bài/đoạn thơ hình họa của anh lại ẩn chứa những thông điệp nội dung theo cách riêng và những thông tin thẩm mỹ thú vị. Vì thế, trong số các thử nghiệm này, cũng có những hình vẽ - thơ của Hữu Đạt đã để lại được trong lòng người đọc ấn tượng đặc biệt. Chẳng hạn, với tôi, khi “xem” và “đọc” kĩ đoạn thơ hình cây rơm (tr.32), tôi cũng như cảm giác được mình đang sống lại với một ngôi làng nông thôn Việt Nam rất điển hình trước đây trong cái nồng nàn của hương lúa:

                                       

 

                                       Trâu ta

                                   ăn cỏ đồng ta

                                Dù  trong  dù  đục

                            Ta tắm ao nhà vẫn hơn

                           Nhớ làng câu hát véo von

                         Ru ta từ lúc hãy còn trẻ thơ

                        Nhớ làng qua những giấc mơ

                     Đêm trăng có tiếng ầu ơ rất buồn…

Đọc (và xem) đoạn thơ hình bản đồ nước Việt Nam (tr.56), chưa cần phải nghiên cứu kĩ nội dung, tôi cảm thấy trong lòng mình bỗng dâng lên một niềm cảm xúc mãnh liệt . Cái hình chữ S mà bấy lâu nay chúng ta vẫn thường nhìn thấy trên tấm bản đồ đất nước bình thường vậy thôi, giờ đây như bỗng có một tâm hồn. Không phải ngẫu nhiên, trong đời sống nghệ thuật gần đây, ta thấy xuất hiện không ít loại hình mới lạ: nghệ thuật sắp đặt, nhạc thị giác, thơ trình diễn…Có lẽ đó cũng là một cách để làm cho nghệ thuật bớt nhàm chán đi chăng? Tôi nghĩ thơ thị giác hay thơ hình họa –hình vẽ cũng đi theo hướng đó…

Ở một phương diện khác, nhìn từ góc độ cấu trúc - tư tưởng, Cuộc chiến mười ngàn ngày, ngoài tính chất một bản trường ca lịch sử, còn là một tác phẩm dồi dào cảm xúc, trăn trở suy tư trước thời cuộc của tác giả. Đây có lẽ cũng là một yếu tố không kém phần quan trọng với một bản trường ca. Một bài thơ, đôi khi chỉ cần hay (về mặt âm nhạc, âm điệu) thôi là đủ, nhưng một bản trường ca nếu không có điểm tựa tư tưởng, không mang đến cho người đọc một nhận thức rõ ràng về mặt nội dung, thật khó có thể bám trụ trong lòng người đọc. Cuộc chiến mười ngàn ngày song song với những sự kiện lịch sử suốt chiều dài đất nước, còn được cấu trúc xen kẽ những “trữ tình ngoại đề” đầy trăn trở của nhà thơ. Chẳng hạn, sau ba chương đầu về “Khát vọng mùa thu”, “Cuộc kháng chiến chín năm”, và “Mãi mãi Điện Biên”, Hữu Đạt dừng lại để trò chuyện với bạn đọc về “Thế hệ chúng tôi”, thế hệ của tác giả. Sau các chương “Cuộc đối đầu lịch sử”, anh tâm sự về “Những người Mẹ” của đất nước Việt Nam trong những năm gian khổ hy sinh. Rồi trở lại với “Mái trường đại học”, về mảnh đất Mễ Trì mà tôi và anh, thế hệ chúng tôi từng sống và học tập trong những năm chiến tranh, để chiêm nghiệm sâu hơn về những con người đã từng trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ với bao hy sinh, mất mát. Sau đó là cuộc lữ hành trở về với “Những ngôi làng”. Sau “Trận đánh cuối cùng”, “Đất nước chuyển mình”, Hữu Đạt có một chương ngập tràn suy tư về đất nước sau chiến tranh, đất nước trên con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Cũng giống Nguyễn Duy trong Đánh thức tiềm lực, Hữu Đạt cũng có những câu thơ đầy trăn trở trong trường ca Cuộc chiến mười ngàn ngày:

“Dự án mở thênh thang khắp chốn

Nhà chưa xây tiền túi đã gom đầy

Đất của công  lấy từ tay dân chúng

Đền bù chả là bao mà giá đắt trao tay”

          Hoặc:

Thời kinh tế thị trường

Lòng người chao đảo quá

Chân lý hôm qua

nay bỗng rẻ như bèo

Bao cái ác lượn lờ

Và đồng tiền đang phá

Những đạo đức ngàn đời

Tan như bọt sóng reo

 

Cuộc chiến mười ngàn ngày được viết từ 2010 đến cuối năm 2013, đầu năm 2014, ở thời điểm vấn đề Biển Đông chưa nóng bỏng như hiện nay, nhưng trong bản trường ca này, ta đã bắt gặp những câu thơ chứng tỏ tác giả là người khá nhạy cảm, thức thời, một tâm hồn yêu nước sâu sắc, đằm thắm:

                    Chúng tôi lớn lên

Hiểu đất nước qua những bài lịch sử

Mẹ Âu Cơ sinh bọc trứng trăm con

     Một nửa vác cung tên lên núi

Một nửa đi khai phá những bưng biền

Ý thức với Biển Đông từ thuở ấy

Đã thấm vào mỗi giọt nước vùng biên

          Có thể khẳng định, Cuộc chiến mười ngàn ngày là một thành công thể hiện sự độc đáo của Hữu Đạt. Đây là tập trường ca có nội dung phong phú, chân thực giàu cảm cảm xúc với lối viết khoáng hoạt, có chiều sâu về hàm lượng ngữ nghĩa với- nhiều cách tân độc đáo. Đó là một tập trường ca làm giàu có và phong phú thêm mảng thể loại trường ca hiện đại, rất có ích trong việc truyền bá tinh thần yêu nước và ý chí quyết tâm của nhân dân ta trong chiến tranh giữ nước và khắc phục vượt qua thử thách để xây dựng cuộc sống mới hôm nay.   

                                                                         Những ngày giữa hè 2014

                                                                                                   T.H

Lời nói đầu

         

Sau khi đọc tập thơ Lữ hành một số bạn đọc, chẳng hạn, PGS.TS Đinh Thị Minh Hằng (Viện Văn học) đã gặp tôi đề nghị “Anh nên có một tuyên ngôn cho kiểu thơ mới, thơ hình họa”. Tôi cứ suy nghĩ mãi. Nói “tuyên ngôn” thì to tát quá. Nhưng không có lời nào “phi lộ” trước bạn đọc thì sẽ là không phải. Vì vậy, trước khi bạn đọc cầm trên tay cuốn trường ca này, tôi xin có vài lời bộc bạch như sau:

          Trong khoảng một hoặc hơn thập niên gần đây, bạn đọc đã bắt đầu xa lánh thơ. Có người chỉ nghe nói đến thơ đã có những phản ứng dè bỉu, thậm chí giễu cợt, châm biếm. Bởi trên thực tế, thơ giai đoạn sau chiến tranh ít có cái mới, đó là chưa nói, phần nhiều thơ có sự lặp lại, nhàm chán hoặc rất non yếu về nội dung. Thơ không còn là tiếng lòng để người đọc tri âm. Nó như là một cái gì quá phù phiếm tồn tại trên cõi đời này.

          Để khắc phục tình trạng đó, một số nhà thơ đã thay đổi phương pháp sáng tác, trăn trở tìm con đường đổi mới thơ ca. Một số đã chuyển hướng sáng tác theo hướng Hậu hiện đại. Chủ nghĩa hay khuynh hướng nào cũng đều không quan trọng. Quan trọng là bạn đọc có đồng cảm và chia sẽ với nhà thơ hay không?

          Cũng may, trong tập Lữ hành của tôi (Nxb Văn học 2014) có nhiều bài được viết theo kiểu hình họa (hình đồng hồ cát, hình cái ly, hình cái nơ, hình tháp chồng, hình mũi tên…) lại được rất nhiều bạn đọc yêu thích. Có nhà phê bình còn cho rằng “Lữ hành là cuộc cách tân thơ  tân hình thức và khai sinh ra dòng thơ hình họa”(*).

Thơ hình họa là loại thơ khác hẳn với thứ thơ mô phỏng/hay thơ hình thức một thời đã xuất hiện ở Việt Nam (với các tác giả như Nguyễn Vĩ, Lê Ta, Trần Huấn Chương). Loại thơ này thường cấu trúc bài thơ phỏng theo một hiện tượng thiên nhiên nào đó. Thơ hình họa (còn gọi là thơ hình vẽ) muốn đạt tới sự truyền cảm bằng cả hai con đường đọc và nhìn. Ở đây những hình họa được “tạo hình” từ những câu thơ không thuần túy chỉ là trò chơi ngôn ngữ mà còn mang một thông báo nghệ thuật ngầm ẩn đằng sau lớp vỏ ngôn từ. Ví dụ, trong trường ca này, tôi sử dụng khá nhiều hình họa khác nhau như: hình mái nhà rông, hình trống đồng, hình cái lư đồng, hình cái bình cổ, hình cái hũ, hình cây rơm… với những biểu tượng và ẩn ý nhằm bộc lộ rằng, cuộc chiến này là cuộc đọ sức của hai nền văn hóa. Trong đó, Việt Nam là một nước có nền văn hóa lâu đời đã chiến thắng nền văn hóa thực dụng với những phương tiện và vũ khí hiện đại kiểu Mỹ. Một số hình vẽ còn bổ sung thêm thông tin hàm ẩn bên cạnh hình tượng thơ. Chẳng hạn, có chỗ tôi dùng hình vẽ là cái hũ nhằm gợi nhớ hình ảnh “hũ gạo nuôi quân” thời kháng Pháp. Có chỗ tôi dùng hình vỏ cát tút đạn để biểu tượng hình ảnh ác liệt của chiến tranh. Có chỗ dùng hình con quay để biểu tượng thái độ tráo trở của Ngô Đình Diệm. Có chỗ dùng hình giọt lệ để nói về sự mất mát, đau thương. Có chỗ dùng hình cây Thánh giá để biểu tượng cho niềm tin và sự thiêng liêng giống như các con chiên hướng về Thiên Chúa. Cuối chương “Trận đánh cuối cùng”, tôi dùng hình bản đồ Việt Nam để biểu tượng cho sự chiến thắng toàn vẹn, sự thống nhất vững bền của giang sơn đất Việt…

Viết một bản trường ca về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đã khó, mà thể hiện nó qua hình thức của cấu trúc hình họa lại càng khó hơn. Điều đó đòi hỏi người viết phải có tinh thần làm việc tỉ mỉ, nghiêm túc và phải có sự am hiểu khá tường tận về đặc điểm loại hình của ngôn ngữ dân tộc để phát huy hết tiềm năng của tiếng – một đơn vị độc đáo của tiếng Việt. Đây là đơn vị có khả năng biến hóa linh hoạt trong kết hợp tuyến tính và có khả năng đánh thức trường liên tưởng của người đọc về các nghĩa tiềm tàng của từ. Nếu biết phát huy thế mạnh của nó, chúng ta có thể tạo ra những câu thơ có nhiều tầng bậc ngữ nghĩa, giàu âm hưởng về mặt ngữ âm. Ngược lại, nếu ta tùy tiện áp đặt ý chí chủ quan lên nó thì có thể ta sẽ tạo ra những câu thơ vô nghĩa, đôi khi ngớ ngẩn. Đó là một thách thức không nhỏ đối với chúng tôi, cũng như với những người làm thơ nói chung.

          Thơ hình họa thực chất đã phá bỏ một nguyên tắc phổ biến là tính hình tuyến của ngôn ngữ trong quá trình tạo lập văn bản. Đọc thơ hình họa, cùng lúc ta có thể nhận ra nhiều biến thể về cách ngắt nhịp, hòa âm của ngôn ngữ thơ, tùy theo cảm hứng của độc giả. Vừa đọc, vừa xem đó chính là cách tiếp cận thơ hình họa. Hy vọng, trường phái thơ này sẽ tiếp tục nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của độc giả.

---------------------------------- 

 

(*)Nguyễn Trị Trà My “Lữ hành là cuộc cách tân thơ tân hình thức và khai sinh dòng thơ hình họa”, Tạp chí Văn nghệ Thủ đô, số 11 năm 2014.

 

Hữu Đạt

 

 

CUỘC CHIẾN MƯỜI  NGÀN NGÀY

(Trường ca, Nxb CAND, 2015)

Trích đoạn

 

                                                            Chương ba

       Mãi mãi Điện Biên

                                                                                               

                                  Từ thuở ấy anh đi             hình cái bình cổ       

Đã bao mùa lúa trổ

Áo chiến binh sờn bạc mấy lần

Mép ba lô bao lần thay chỉ cũ

Bao con đường

 không nhớ hết

 chặng dừng chân

 Bao làng xóm anh qua

 vẫn một màu lam lũ

Nhưng tình yêu trong sáng đến vô ngần

Không gì đẹp hơn anh được nữa

Hình ảnh người chiến sĩ Vệ quốc quân

Đôi dép cao su đi qua hai thế kỷ

Dân tộc từ đây ngẩng mặt trước toàn cầu

Lịch sử lật thêm trang hùng vĩ

Nguời lính chân trần, vai bạc áo nâu

 

                                              Từ thuở ấy anh đi                              hình lọ hoa

Bên cánh rừng

Trần Hưng đạo

vẫn âm vang tiếng hát

Ba mươi tư người lính đầu tiên

Lớn lên từ núi rừng Việt Bắc

Sức vươn vai như Phù Đổng thần kỳ

Chân đạp núi rừng Gươm mài đá sắc

Tổ quốc cùng theo bước anh đi

Cùng với nước Cộng hòa non trẻ

Ngày hôm nay anh trở lại với rừng

Đêm Việt Bắc bập bùng ánh lửa

Một đoạn suối bên đường

 bao khuôn mặt soi chung

Thương đất nước

 bao đau thương

 tang tóc

 

 

 

Khắp bốn phương giặc đói vẫn hoành hành

Kháng chiến gian lao, đành thắt lưng buộc bụng

Muốn thắng giặc thù, ta không thể đánh nhanh

Lời Bác dặn phải trường kỳ kháng chiến

Hũ gạo nuôi quân chiu chắt từng ngày

Mẹ nhịn đói dành cho người ra trận

Lời ru buồn theo đôi cánh hạc bay

 

Ru rằng: Ham đánh giặc Tây

Cha đi từ thuở nhừng ngày tóc xanh

Vườn chiều nở trắng hoa chanh

Nhà ai đêm lạnh mong manh gió lùa

Não lòng tiếng khóc con thơ

Võng đưa kẽo kẹt, ầu ơ tiếng bà

Mẹ đi tiếp vận đường xa

 Mong sao có dịp gặp cha một ngày…

 

Đường kháng chiến dài theo năm tháng

Anh không ngừng nhịp bước hành quân

Hết chiến thắng Sông Lô, Biên giới

 Lại chuyển sangchiến dịch Hòa Bình

Anh lại thắng như bao lần đã thắng

 

 

Ba mươi tư chiến sĩ năm xưa

nay thành những trung đoàn

Từ rút lui chuyển sang cầm cự

Đợi một ngày sẽ Tổng phản công

Lịch sử chọn nơi đây làm điểm nút

Ai thắng Điện Biên sẽ làm chủ cuộc cờ

Cuộc chiến ba ngàn ngày chưa nói được

Ai là người chiến bại giữa cuộc đua?

Lời thách đố vang lên như tiếng sấm

Tướng Pháp huyênh hoang tuyên bố trước toàn cầu

Vùng Tây Bắc nay đã thành cứ điểm

“Việt Minh có can trường hãy đến thử thách nhau”

Bộ Chính trị họp bàn trong lán trúc

Bàn gỗ thênh thang chỉ có những  tách trà

Không bơ sữa, rượu bia và thịt hộp

Những mái đầu chụm lại dưới người Cha

 

 

Trên vách nứa treo lá cờ Tổ quốc

Thế trận bày ra trong từng góc bản đồ

Bác đứng dậy với cây chì đỏ

Bước bồi hồi như thể trong mơ

Đêm trăng sáng rạng ngời như cổ tích

Người đứng trầm tư bên góc lán lặng nhìn

Thương chiến sĩ đang giữa mùa chiến dịch

Vó ngựa lưng đèo luôn rộn rã báo tin

Tứ thơ mới hiện về Bác chưa kịp viết

Công điện đường xa tới tấp đưa về

Bộ Chính trị thêm một lần nhóm họp

Sớm mai rày Bác tiễn Anh đi (*)

 

Thầy giáo sử tuổi thanh xuân đứng lớp(**)

Nay là Anh - Tư lệnh những binh đoàn

Bác tin tưởng giao cho Anh trọng trách

Quyết lần này phải thắng trận Điện Biên

 

Phút bịn rịn Anh ôm hôn má Bác

Nẻo đường xa yên ngựa đã sắn sàng

Khắp trận tuyến nghe tiếng gầm đại bác

Chợt bên đường nở mấy nhánh phong lan

 

Đường hỏa tuyến dân công đi tải đạn

Vui như đi mở hội lúc xuân về

Xe đạp cũ cũng hóa thành người lĩnh

Cùng đồng hành theo mỗi bước quân đi

 

Pháo đã kéo, chốt trên đồi chiến dịch

Chì chờ nghe lệnh phát hỏa diệt thù

Nhưng mười một đêm Anh Văn không ngủ

Sương trắng giăng đầy quanh lán chiến khu

 

Một quyết định khó khăn đầy nước mắt

Kéo pháo vào rồi, nay lại kéo pháo ra

Chuyển kế hoạch đánh nhanh thành tiến chắc

Mấy ai tin vì chuyện quá bất ngờ?

 

Nhưng không thể chù chừ được nữa

Tổng hành dinh đã phát lệnh xuống rồi

 Cuộc vận động đã xuống từng đại đội

                Thời gian gấp rồi  phải hành động ngay thôi                                                                                          

                                                                              

                           Lại kéo phéo ra để họp bàn chấn chỉnh         hình chiếc đôn         

Suy tính từng ly những mất những còn

Vì thương tiếc máu xương

 của từng người linh

Đại tướng đành lùi

cho  đánh chậm hơn

Từ thuở ấy anh đi

Cuộc kháng chiến

mấy ngàn ngày không nghỉ

Sáng sớm mai là trận đánh cuối cùng

Thư viết vội trên tay người chiến sĩ

Nhắn gửi về người sống ở hậu phương

 

Bạn ở Quảng Bình, tôi thị xã Sơn Tây…

Đêm chiến dịch vây quanh lửa trại

Những ngày xuân hoa trắng rụng đầy

Tốp lính trẻ vỗ tay líu ríu

Súng dựa hờ trên mỗi bờ vai

Câu Quan họ cô dân công vừa hát

Át cả tiếng gầm của những tốp máy bay

 

 

-------------------------------

(*),(**) Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp

 

 

Buổi sáng ấy như rất nhiều buổi sáng

Nai vẫn kêu bên suối gọi bạn tình

Quân với dân vừa qua đêm hò hẹn

Lệnh nổ súng đã bắt đầu từ Tổng hành dinh

 

                                      Pháo trút lửa ngay trên đồi A1                  hình chiếc ly lớn

Nóc Him Lam khói đã bốc mịt mù

Những người lính ào lên như thác lũ

Bọn địch co về quyết cố thủ từng khu

Đường quyết chiến mở thêm nhiều lối mới

Những rãnh hào đi chằng chịt áp đồn thù

Mồ hôi sũng lưng, thấm trên từng xẻng đất

Những vòng vây cứ ép chặt từng khu

Địch rối loạn điên cuồng chống trả

Pháo kích liên miên

tăng xuất hiện bất ngờ

Nhưng không thể

 làm gì hơn được nữa

Vòng vây ta cứ

 ép chặt từng giờ

Mưa trút xuống

Những lòng hào nhão nhoét

Bùn với bùn trộn lẫn máu chiến binh

Đêm khắc khoải, nắm cơm rơi chấm đất

Người lính xung phong ăn một cách ngon lành

 

 

 

                                                  Trận  quyết chiến                     hình chiêc chìa khóa         

máu xương không kể hết

Mỗi góc hào đều đầy ắp thây phơi

Không kịp biết xác bên ta hay địch

Những cuộc chà đi sát lại vẫn liên hồi

Anh lính trẻ vừa xông lên lần cuối

Tay đang cầm khẩu súng bắn bâng quơ

Mắt anh đã không còn nhìn được nữa

Nhưng chân vẫn hiên ngang

xông tới trước mặt thù

Bọn lính Pháp

 ùa nhau

tháo chạy

Pháo ta

 gầm lên

từ những

đỉnh đổi

Sân bay

Mường Thanh

 mịt mù lửa khói

Những đường băng

 bị cắt đứt làm đôi

 

Tập đoàn Điện Biên

không còn đường tiếp viện

Thoi thóp  như cá rãy trên bờ

Không thể để thời gian

kéo dài thêm được nữa

Ta thít chặt vòng vây

Qua từng phút từng giờ

Thế bị kẹt không sở xoay được nữa

Đờ cát đành phát đi tín hiệu đầu hàng

Hơn mưới sáu ngàn quân tinh binh cường quốc

Ủ rũ buồn đi trong một màu tang

 

Cả nước Pháp cúi đầu trong lặng lẽ

Nhìn Điện Biên trong nỗi nhục hạ cờ

Không tin được một đội quân quá trẻ

Lại đánh bại hoàn toàn anh đế quốc già nua

 

Từ thuở ấy anh đi

Áo vai sờn, súng kíp

Một đội quân chỉ có mấy mươi người

Nay đã thành những binh đoàn chủ lực

Thắng Điện Biên rồi hùng dũng tiến về xuôi

 

 Hà Nội hôm nay

ngợp trời trong nắng mới

Năm cửa ô náo nức  đón quân về

Một lời hẹn 9 năm

 không mấy ai tin nổi

Qua thương đau vẫn giừ trọn lời thề

Anh đã viết hai chữ Việt Nam

 lên bản đồ thế giới

Lịch sử in dấu chân anh

những người lính Cụ Hồ

Và tên Anh đã thành trang sử mới

Cho nô lệ khắp thế gian này

Đứng lên giành độc lập tự do

 

Kể từ ngày ấy mùa thu

Anh đi kháng chiến

                          chiến khu trở về

                                                   Lúa vàng  lại chín

                                                 đồng quê

Lại vui

                        tiếng cối

                                          sớm khuya

                                                                    mẹ già

Dặt dìu ru

                                       tiếng  ầu ơ

Ngang bờ tre

                                        tiếng gió đưa

                                                                     giọng hò

    Trên sông

                                        ngang một

                                                                          con đò

Chèo khua

                          nước vỡ

                                               đôi bờ

                                                                           trăng trong…

 

  

Chương bảy

Mái trường Đại học

 

Thời ta đến Mễ Trì xanh màu lúa

Nhưng ao hồ giăng khắp lối ta đi

Những chiến tích đạn bom

còn hằn lên vết đất

Mưa nhiều đêm trắng cả lối ta về

 

Lớp học chung hai ngành Văn Ngữ

Một quầy ăn bát đũa xếp từng khu

Văn với Sử như là bè bạn

Lối ta đi bạn cũng đi nhờ

 

Tuổi trong trắng như trang giấy mới

Mỗi ngày qua hai buổi đến trường

Nghe giáo sư thuyết trình  trên bục giảng

Hồn đứa nào cũng ướt đẫm văn chương

 

Căn phỏng ở kê toàn giường sắt cũ

Bạn nằm giường trên ta ở dưới này

Lương một tháng mười tám ngàn đồng bạc

Nhưng tâm hồn ai cũng ngát hương bay

 

Nào những A Q , nào ông Lỗ Tấn

Nào Đôtxxtoievxki, Sê khov với Mai a

Đây cụ Lev - “Chiến tranh và hòa bình” không cũ

Máu vẫn tuôn trên nửa nước non nhà

 

Lũ sinh viên miệt mài nghe thầy giảng

Mắt ngẩn ngơ nhìn thành phố trong hoa

Mỗi khi Tết hoa đào lại nở

Náo nức làm sao được nghỉ Tết về nhà

 

Một bữa liên hoan cháy dạ dày lép kẹp

Chiếc bánh chưng xanh tiêu chuẩn mỗi người

Không kịp để dành lúc lên tàu chống đói

Ta mở ra ăn tiễn bạn về xuôi

                                                                                    

 Lớp tuy nhỏ nhưng bạn bầu tứ chiếng       

Kẻ miền Nam, miền Bắc miền Trung

Kẻ ở núi cao, người nơi miền biển

Những về đây chỉ một chữ “cùng”

Cùng chí hướng, cùng cả đời lam lũ

Cùng cái nghèo theo suốt cả bốn năm

Cùng đắp chung chăn mỗi đêm giá lạnh

Cùng câu chuyện riêng tư trước mỗi tối đi nằm

 

Cùng thao thức trước mồi đời kiếp bạc

Cùng ưu buồn trước các cuộc chia ly

Cùng vui sướng reo lên khi thấy bạn

Nỗi nhớ xa nhau sau một tháng nghỉ hè

 

Ta hát mãi trong những chiều ký túc

Lá vàng rơi khắp lối ta đi

Tiếng gõ bát chờ cơm chen tiếng hát

Một thời yêu nhau…trong xanh lúa đồng quê

 

 

Mễ Trì ơi! Nay còn đâu thuở ấy

Hàng cây xanh trong vắt nước hồ

Những đêm trăng buồn nghe cá quẫy

Cũng nao lòng cả những răng ô rô

 

Không còn nữa cánh đồng hoang hoải nắng

Mênh mông xa những ụ pháo hoang tàn

Thời chinh chiến phố găm đầy vết đạn

Bom thù rơi, nhà bếp sập, gãy tan

 

Một khóa học phải mấy lần sơ tán

Mấy cuộc chia tay tiễn bạn lên đường

Bao ấp ủ còn vương trên giáo án

Mắt nhìn nhau chan chứa tình thương

 

Không ai nghĩ tuổi đang còn cắp sách

Lại ôm ngang cây súng giữa trận tiền

Dù mấy vạn những trang sách viết

Hết làm sao những người lính không tên

                                                                                              

                                Thương lắm lắm, những bạn bè thuở ấy        hình nút chai

Trong những lớp ra đi có những bạn không về

Đời trai trẻ ngã vào lòng trận mạc

Chết sáng trong như ánh sao khuê

Cho đất nước bình yên

Cho bao nhiêu đôi lứa

Học và yêu

Theo phong cách

 sinh viên

                                                                

                                       

 

                                      Bao năm tháng qua đi            hình vỏ đạn đại bác

Bao lớp người nối tiếp

Một bài ca hát mãi chưa thôi

 Vầng trăng tiễn đưa, nửa đi nửa ở

Cuộc chiến trinh dằng dặc khôn nguôi

Trường với lớp về nơi sơ tán cũ

Bạn hành quân đi về phía chân trời

Nơi tiếng súng đang nã vào mặt trận

Nơi khói bom mù mịt pháo đài bay

Nơi xích sắt xe tăng nghiền nát đất

Bạn làm thơ trong hỏa lực pháo bầy

Mỗi trang viết bạn gửi về Hà Nội

Người ở nhà đọc như đắm như say

Rừng Trường Sơn hôm nào bốc khói

Những  Con ma, Thần Sấm rơi đầy

Hai  nửa  nước mình  đầy vết  đạn

Vẫn hiên ngang tư thế làm người

Tiền tuyến gọi hậu phương xốc tới

Dẫu biết rằng máu chảy đầu rơi

 

Bao người mẹ mất con

Bao trẻ thơ khóc mẹ

 biết bao người vợ trẻ

Thức trắng

  

đêm                                                     

                                          trong                 hình ngọn nến

  nỗi nhớ

                                                        chờ chồng

 Ông hành quân

  Cha hành quân

   Cháu cũng hành quân

  Đường tít tắp nối

 dài theo chiến dịch

 Rừng bốc cháy như

 là trong cổ tích

  Khắp lối bom rơi

   Khắp lối bom đào

  Những cô gái

  xung phong

 đứng chắn

 thành rào

  Làm cọc

  hoa tiêu

cho đoàn xe vượt tuyến

Cả đất nước đằm mình trong chiến trận

Đến bữa cơm ăn cũng gián đoạn không thành

 

Trang giấy học trò nhàu nát trộn máu tanh

Lớp sơ tán lật nghiêng

 bom tọa độ

Bàn ghế cháy thành than

 bay trong gió

Đề văn thầy ra bạn viết vội chưa thành

 

Dang dở quá, những ước mơ xếp lại

Những mối tình vừa chớm nở hôm qua

Nay đã  lấy khăn tay thêu vội

Những vụng dại ban đầu

giấu trong những nụ hoa

 

Sân trường cũ năm nao còn in mãi

Bóng những người lính chiến tuổi đôi mươi

Dìu dặt cầm tay ai

 trong nước mắt

Câu tiễn đưa như tím cả chân trời

 

Lớp bỗng cứ thưa dần sau mỗi đợt

Lần tuyển quân nào cũng phải tiễn bạn đi

Rừng Thái Nguyên bao chiều u uẩn khóc

Chiến trường xa mộ bạn đã xanh rì

 

Vẫn nhớ mãi mùa mưa năm tháng ấy

Qua Suối Đôi thầy chủ nhiệm cưỡi trâu

Vượt dốc dài Hoàng Hữu Yên rơi kính (*)

Nắng đến như cháy cả tóc trên đầu

 

Miệng vẫn hát những bài ca Đất nước

Bụng chỉ toàn mì luộc trộn với rau

       Cùng bạn sẻ chia bát canh toàn quốc(* *)

Mai sớm vượt qua những núi cùng đèo

 

Đi chặt nứa rừng dựng nhà, dựng lớp

Có gì đẹp bằng mắt bạn trong veo

Có gì đẹp bằng nụ cười rạng rỡ

Của người yêu dưới vành mũ tai bèo

 

Bao đôi lứa yêu nhau thời chinh chiến

Đã buồn khi thư lạc lối không về

 

 

Nhưng vẫn khắc vào tim mình hai chữ

Dù đi đâu vẫn giữ trọn câu thề.

 

 

Người ở lại trang giáo trình vẫn mở

Người ra đi chân đạp đá, gai rừng

Cùng đất nước viết thêm nhiều trang sử

Rất oai hùng và cũng rất đau thương

                                                                

                                               Thời ta đến                            hình ngọn đuốc

 Mễ Trì xanh màu lúa

Lửa chiến chinh cháy rực

 khắp cánh đồng

Treo ảm đạm

vầng trăng non

góa bụa

Tiếng

Thần

     Sấm (*)

 gầm

rách nát

 những khoảng không

 

                                                        Đêm                                    hình tháp xuôi

Giấc ngủ

 chập chờn

 cơn ác mộng

Giáo án lật sang trang

Ướt đẫm tấm lưng thầy

Bao con chữ ngổn ngang rơi trên lớp

Giờ học cuối cùng anh nhớ mãi từ đây

Tiền tuyến gọi cuộc hành quân tiếp bước

                                 

 

 

--------------------------

(*) Câu truyền miệng của SV khoa Ngữ văn: vượt dốc dài Hoàng Hữu Yên rơi kính/ Qua Suối Đôi Hoàng Xuân Nhị cưới trâu.

 (*) Cụm từ sinh viên thời đó hay dùng chii loại canh rất ít rau chỉ toàn nước

                                                    

 

 

                                    Anh                   hình mũi tên

 xung phong

 vào trận cuối cùng này

Đêm lửa trại cả trường vui náo nức

Trống dập dồn theo bóng lá cờ bay

Không có gì quí hơn Tự do cho Tổ quốc

Chiếc gậy Trường Sơn thành bạn mới những ngày

Vượt núi băng đèo

tiến về phía trước

Không quản hy sinh

gian lao khó nhọc

Chiếc ba lô

trĩu nặng tấm

thân gầy

Mưa gió

Trường Sơn

không át nổi

Tấm lòng

yêu nước

đến mê say

 

Như tất cả sinh viên trường khác

Anh đi trong đội ngũ điệp trùng

Vai khoác ba lô tay mang súng đạn

Mấy bài thơ viết dở giắt bên lưng

Thơ anh viết nhuốm rất nhiều lửa khói

Vẫn không quên những nỗi nhớ bạn bè

Mỗi cuộc hành quân, một trang thơ viết vội

Hành trang suốt đời người lính chẳng có chi

 

Chỉ có những ước mơ

 xanh như màu biển cả

Và tình thương vô tận

 với quê nhà

                                                         Anh không khóc

sao trang thư lại khóc

Để người ở lại buồn

Hóa đá giữa mưa sa?

 

Thời ta đến Mễ trì xanh màu lúa

Tình yêu anh chớm nở lúc đông tàn

Có lẽ nào bạn tôi thành góa bụa

 

                                           Ngay                           hình giọt lệ

cái thời tóc

 vẫn còn xanh?

Đèn vẫn sáng trong

những đêm họp lớp

Giọng thầy đọc

 run run

                                                                thư

 tiền

 tuyến

 gửi

 về

 

 

 

 

                                                   Lớp                                 hình cây nấm

 im lặng

dõi theo từng nét chữ

Bài học lịch sử buồn

trong những phút chia ly

Lá thư nhỏtrang giấy đen gấp vội

Đã đi qua  bao chặng vượt bom thù

Bom làm rách nửa phong bì ám khói

Vẫn rực màu khát vọng mùa thu

Vẫn chứa chất ngàn điều còn chưa nói

vẫn tươi nguyên những lời hẹncâu thề

Nơi tiền tuyến anh đang xốc tới

Chốn quê nhà trăng theo bước anh đi

Lớp không học từng tuần

theo

lịch cũ

Mỗi lối

 trường xưa

 địch oanh kích nhiều lần

 

Đêm sơ tán bạnnhớ anh không ngủ

Lớp vắng dần sau mỗi đợt tuyển quân

 

Ngày ta mới nhập trường

hơn sáu mươi sinh viên một lớp

Nay nhìn quanh chỉ thấy bóng chục người

Cảnh xao xác của một thời đánh giặc

Những nỗi buồn dằng dặc khôn nguôi

 

Một lần nữa lại một người ngã xuống

Lớp thêm một người ở tiền tuyến hy sinh

Giờ truy điệu cờ rủ ngay trước lán

Ai cũng đau như mất ở lòng mình

 

Một chút tuổi xuân

 Đi như không về nữa

Một chút tình yêu

 đắm say trong dang dở

 

                                                    Một                            hình cây thánh giá

chút

ước

vội

 vã

 chửa

 thành

hình                                               

Ai cũng như thấy mất ở lòng mình

Cái gì đó

 lớn lao

 to tát quá

Phút

 im lặng

bao

 bạn bè

 nghẹn thở

khắc

 một

chữ

 “buồn”

nhói

buốt

trong

 tim

Thời ta đến Mễ Trì lúa màu xanh

 

 

Chương 8

 

 Những ngôi làng                

                                                                                           hình trống đồng                                                                                                          

  Chúng tôi lớn lên từ những ngôi làng

Làng có tự bao giờ chúng tôi không được biết

Nhưng khi chúng tôi biết bước đi trên mặt đất

Làng đã thành ký ức tự ngàn xưa

 Làng có từ câu hát bà ru

                                             Kẽo kẹt tiếng võng đưa             

Lũy tre vàng vặn mình

 trong một chiều cả gió

                                                   Làng phảng phất

mùi ấm nồng rơm rạ

Những con đường

hằn vện vết chân trâu

                                                                                            

 

Dù ai có đi đâu về đâu

Vẫn nhớ làng có mái đình

bên cây đa giếng nước

Đêm mở hội nghe dập dồn trống thúc

Điệu hát chèo văng vẳng khúc thương nhau

 

Dù ai có đi đâu về đâu

Vẫn nhớ làng qua mỗi mùa hoa nở

Khi cây gạo cựa mình rực đỏ

Bầy chim ri ríu rít đón hạ về

 

Khi bóng chiều vàng màu cúc chân đê

Mùa thu đến bên thềm nghe bỡ ngỡ

Cô gái nhà bên ai đem trầu chạm ngõ

     Câu hát buồn “con gái lấy chồng xa…”

                                                                                       

                                                         Trâu ta                    hình cây rơm

ăn cỏ đồng ta

Dù trong dù đục

ta tắm ao nhà vẫn hơn

Nhớ làng câu hát véo von

Ru ta từ lúc hãy còn trẻ thơ

Nhớ làng qua những giấc mơ

Đêm trăng có tiếng ầu ơ rất buồn

Làng với nước trong câu hát ví

Đã thành lời hò hẹn núi sông

Không có làng thì không có nước

Nước mà đau làng cũng đau cùng

                                                                                             

                               Chúng             hình quả trám            

 tôi

   lớn lên       

từ làng đi

 chinh chiến

Đường hành quân

qua hàng vạn xóm làng

Ngay cả những nơi vừa mới đến

Vẫn có cái gì như rất đỗi thân quen

Vẫn phảng phất bóng quê mình

  với bờ tre nơi cuối xóm

vẫn có tiếng gà xao xác

lúc đang trưa

vẫn có tiếng

mẹ ru hời

và tiếng

 đò đưa

..ưa

 

 

 

 

Thời chinh chiến anh đi

Những ngôi làng anh qua

Không thể nào nhớ hết

Làng trung du

Tán cọ xòe bóng mát

Điệu hát xoan

dìu dặt bóng trai làng

 

                                            Đêm mở hội                        hình cái chĩnh

                                                             hoa xuân           

  rơi trắng ngõ

 Tiếng trống chầu

nghiêng cả chuyến đò ngang

Làng châu thổ đất bồi xanh bờ bãi

Những bãi dâu chín đỏ nắng đang về

Mùi hương nhẹ quyện theo em mái tóc

Làm bồi hồi mỗi nhịp bước quân đi

Những ngôi làng anh qua

Dáng trầm mặc

 với bao tầng huyền tích

Bao bến nước cây đa

Bao ngôi chùa

Đức Phật

Tiếng

 tụng kinh

gõ mõ

lúc ngang chiều

 

Nghe thổn thức nỗi oan tình Thị Kính

Mỗi câu chèo như có một nỗi đau

 

Làng ven biển

 trắng nức màu cát trắng

Rừng phi lao

vi vút

gió

mặn mòi

Mùi cá mực

 tanh nồng trên mắt lưới

Mênh mông chiều

thuyền rẽ sóng ra khơi..

 

Những ngôi làng anh qua

Không thể nào nhớ hết

Mỗi ngôi làng

 một dáng hình đất Việt

Tự ngàn xưa

văng vẳng tiếng trống đồng

Nơi hồn nước chim bay về hội tụ

Nơi có những mối tình

Cùng con sáo sang sông

 

Làng với nước có trong câu hát ví

Tự ngàn xưa cha mẹ đã thuộc lòng

Khi lớn dậy ta thấy làng óng ả

Những rặng tre ngà

 như nét vẽ uốn cong

 

 Tre làm ra cái nong cái né

Cho mẹ ta sảy lúa, dần sàng

Tre hóa thành đòn càn đánh giặc

Làm kinh hãi quân thù

khi hóa những mũi chông

 

 Làng gắn với tre

Ngay từ thuở khai sơn lập ấp

Tre thành chiếc võng ru

 đung đưa lời mẹ hát

thành cây gậy thần

 cho Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc

thành chiếc cầu cho đôi lứa yêu nhau

 

Câu em hát qua cầu tre lắt lẻo

Quá yêu nhau nên đánh rớt miếng trầu

Trầu cánh phượng mẹ têm sao khéo quá

Để em buồn hát câu lý thương nhau

 

Đêm  chiến dịch vẫn mơ về làng cũ

Nhớ bờ tre đêm mùa hạ hạ gió ru

Ta đã ấm hơi làng từ thời còn rất trẻ

Làng cùng ta đi mãi đến bây giờ

 

Bao tháng năm trăng tròn lại khuyết

Bao nỗi nhọc nhằn  lắng trong từng câu hát

Vầng trăng mỏng mảnh lưng trời

Nhớ đêm trăng thanh, gió nhẹ

Làng ơi! Đẹp mãi muôn đời

 

Làng đã sống như ngàn đời đã sống

Dẫu gian nan vẫn chung thủy một lòng

Làng với nước đã thành câu ví dặm

Dân với làng hóa vẻ đẹp núi sông

 

                                                 Chúng tôi đi                         hình cái thập đồng        

Qua ngàn vạn ngôi làng đất Việt

Cuộc chiến chinh đã gần chục ngàn ngày

Có biết bao tên làng thiêng liêng cùng tên đất

 Cái tên nào cũng đầy ắp mê say

Làng của miền xuôi

Làng miền ngược

Làng miền Nam

Làng miền Bắc

Làng người Thượng

Làng người Kinh

Làng ở Chiến khu

      Làng bưng biền Đồng Tháp…

Nơi đâu cũng thành làng đánh giặc

Mỗi bước chân đi rực cháy lửa hận thù

Chúng tôi yêu làng từ thuở hoang sơ

Qua những thế kỷ thương đau

đã trở thành lũy thép

Đường mở nước

mênh mang cõi đất

Mỗi tên làng

là một ước mơ

                                                                                            

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Top