Một thi học đổ nát (Kristeva viết về Bakhtine)

Một thi học đổ nát

 

J. Kristeva

 

 

I. Thi học hay là sự trình bày cái được trình bày

Cuốn sách của Bakhtine được biên soạn lại sau lần xuất bản đầu tiên trên tạp chí, được chính tay tác giả sửa chữa và được in thành sách lần đầu năm 1929 với tiêu đề Những vấn đề thi pháp Dostoievski.

Giới thiệu cuốn sách này với công chúng nước ngoài sau một khoảng thời gian bốn mươi năm bao hàm những nguy cơ (người ta sẽ hiểu nó như thế nào?) và đặt ra một vấn đề[PXT1] cả về lý thuyết cũng như tư tưởng : người ta muốn nói gì đây về một công trình khi rút nó ra khỏi bối cảnh, thời gian và ngôn ngữ của nó để nắm bắt nó vượt qua những khoảng cách về thời gian, địa lý, lịch sử và xã hội ?

Trong những điều kiện tương tự, việc xuất bản tại Pháp những công trình của các nhà hình thức luận Nga những năm 30 và những nhà ký hiệu học Xô viết hiện nay cũng không chỉ làm cho những công trình này trở thành tài liệu tham khảo không thể thiếu của giới nghiên cứu ở đại học mà còn làm cho định hướng nghiên cứu của những công trình này tác động lên các nghiên cứu về văn bản văn học ở phương Tây cũng như những nghiên cứu về các cấu trúc biểu nghĩa nói chung.

Hướng vào tổ chức nội tại của văn bản, cắt rời những thành phần bên trong của truyện kể (récit) và tìm mối liên hệ giữa những thành phần đó, tất cả đi theo một phương pháp diễn dịch mà nền tảng được gợi hứng từ triết học Kant và tính độc đáo tìm thấy trong ngôn ngữ học cấu trúc nửa đầu thế kỷ XX, những nhà hình thức luận đã mang đến cái mà lịch sử văn học hay các cây bút tiểu luận ấn tượng chủ nghĩa đặc trưng của truyền thống Pháp còn thiếu. Đó là hiểu biết về một phương thức tiếp cận có thể trở thành một lý thuyết bằng cách tìm thấy, và cắm rễ vào, những vang vọng và những tương đồng trong những diễn trình khoa học hoá (les procès de scientification) về “con người” và “xã hội” mà ngày nay vẫn thường định danh là chủ nghĩa cấu trúc.

Ra đời trước những phân tích của Freud nhưng cùng thời với những mệnh đề ngôn ngữ học hiện đại, (……), văn bản của các nhà hình thức luận đã góp phần đưa những nghiên cứu về các hình thức biểu đạt của văn bản văn chương đóng khung trong một chủ nghĩa duy tâm máy móc. Điều đó được thể hiện qua những mưu toan xây dựng một thứ thi học với tư cách một diễn ngôn không đối tượng (en tant que discours sans objet), một Logos phi thời gian và phi không gian, tự nói về chính nó trong một sự sáng tạo liên miên các kiểu mẫu, chính những kiểu mẫu được dẫn xuất từ ngôn ngữ hoặc từ lôgích cơ bản, được áp dụng không cần hiệu chỉnh để xây dựng nên kiểu mẫu về văn bản văn chương của sự nghiên cứu. (a la riguer : xét cho cùng, xét đại thể, xét toàn bộ). Hệ quả là văn bản văn chương được dẫn về một lý thuyết ngôn ngữ học nào đó (thường là các phạm trù của ngôn ngữ - langue - chứ chưa bao giờ là các phạm trù của hành ngôn - discours) và xét đại thể là được phê chuẩn bởi chính các lý thuyết đó chứ không bao giờ được nắm bắt trong tính đặc thù của đối tượng văn chượng trong lịch sử của những phương thức biểu ý (les modes de signifier), hoặc là một diễn ngôn “thi học” bị làm lung lay, bởi lẽ, nó là một sáng tạo, một tự thử thách hơn là một hiểu biết khách quan.

Không có gì đáng ngạc nhiên với điều này bởi lẽ chủ nghĩa hình thức có lẽ đã được tạo dựng nên từ ngôn ngữ học cấu trúc (bộ môn “đổi gác” cho ngôn ngữ học so sánh và lịch sử) và những thực hành thi ca của các nhà vị lai chủ nghĩa (những người nhấn mạnh vai trò của chất liệu ngôn ngữ và những nguyên tắc sản xuất trong “tác phẩm nghệ thuật”). Chủ nghĩa hình thức cũng biểu hiện những tư tưởng phi sử tính (anhistorisme) đầu thế kỷ XX và khuynh hướng phân tích những quy luật bên trong về nghĩa và những cấu trúc biểu nghĩa mà văn chương thời đó, từ Mallarme đến Joyce bắt đầu thực hành. Theo con đường đó, trường phái nghiên cứu này cũng tìm thấy nền tảng tư tưởng từ những nhà duy mỹ Đức : trước hết là những người theo thuyết Kant mới như Volfflin, sau đó và đặc biệt là Walzen. Sách của họ được dịch, sự phân biệt Nội dung (Gehalt) – Hình thức (Gestalt)  của họ được mang ra bình luận và định đề của Walzen “tôi hướng đến một thứ toán học cao cấp về hình thức, tôi muốn thiết lập nên những thủ pháp (procédé) cơ bản của cấu trúc trong nghệ thuật ngôn từ” được chương trình hoá. Bằng cách loại bỏ hoàn toàn cách hình dung về nghệ thuật như là sự biểu hiện một cái gì bên ngoài và hướng toàn bộ nghiên cứu vào cấu trúc hình thức, lý thuyết về cái Gestalt đánh dấu việc cắm rễ vào nhị phân nội dung - sự biểu đạt và bằng cách đó, nó trở nên lệ thuộc vào triết học về sự biểu hiện (philosophie de la représentation).  Một sự biểu hện mà người ta không phân tích đối tượng đuợc biểu hiện (“cái tham chiếu”) mà chỉ phân tích hiệu năng với tư cách dữ kiện có tính khách thể, “cấu trúc” luôn luôn tồn tại ở đó và đảm nhận trong chính nó, để phóng chiếu về phía nó, những phạm trù của cái được biểu hiện được trình bày và bị  bỏ qua.

Món nợ của chủ nghĩa hình thức và thi học của nó đối với mỹ học Đức vẫn còn là một nỗi xấu hổ, không được thú nhận và bị dồn nén lại. Trái lại, ngay từ đầu, chủ nghĩa hình thức muốn trở thành một khoa học có tính thực chứng, a-theorie, khách quan. Phản ứng một cách hợp pháp chống lại mỹ học tượng trưng và những điều kiện tiền định của quá trình trừu tượng hoá khoa học để khu biệt phạm vi nghiên cứu riêng biệt của mình, thứ chủ nghĩa thực chứng này bắt đầu trở nên lúng túng khi nó dứt khỏi những nghiên cứu đơn thuần “ngôn ngữ thi ca” để trở thành một thứ thi học đúng nghĩa. Tính đặc thù trong thệ thống biểu hiện của một văn bản hay một thể loại thi ca bị đồng nhất với tính đặc thù trong cấu trúc của ngôn ngữ (thông dụng hoặc thơ ca). Thiếu những suy tư lý thuyết, vấn đề thực hành văn chương với tư cách là một hình thức biểu hiện đặc biệt không được đặt ra. Đối tượng “văn chương” bị tiêu biến theo con đường đó dưới sức nặng của những phạm trù ngôn ngữ, những phạm trù làm nên cái “đối tượng khoa học” trong những diễn ngôn hình thức chủ nghĩa, khu trú cả trong những cái nó không nói ra, nhưng không có hoặc không mấy điểm chung với đối tượng thực : tác phẩm văn học, với tư cách một hình thức biểu hiện đặc thù, nắm bắt trong chủ đề, trong dạng thức hình học (topologie), trong lịch sử, trong hệ tư tưởng … [PXT2] của chính nó. Khởi đầu với một yêu cầu trung thành với đối tượng, chủ nghĩa hình thức nhận thấy và trở nên là một diễn ngôn không đối tượng hoặc về những đối tượng khác nhau. Nhiều mưu toan đáng kể nhằm thoát khỏi kết cục trên đã được thực hiện. Nhưng thứ thi học như những nhà hình thức luận đã tạo ra vẫn còn chưa đạt đến tính phức tạp đặc thù mà họ đã tự đặt ra mục đích phải làm sáng tỏ. Tại sao?

Ngay lập tức, chủ nghĩa hình thức rơi vào tâm điểm những cuộc tranh luận văn chương lúc bấy giờ ở Sô viết và trong những cuộc tranh luận đó, nó bị hạ giá bằng ba kiểu phê phán khác nhau. Quen thuộc nhất là lối phê phán của Trosky. Những lợi ích của nghiên cứu hình thức được thừa nhận nhưng lại bị đòi hỏi phải được bổ khuyết bằng lối tiếp cận Marxisme. Quan điểm có tính chiết trung (électique) này dự tính một lý thuyết văn chương Marxisme giống như một sự cộng sinh giữa nghiên cứu hình thức luận và lối diễn dịch lịch sử - xã hội, một sự cộng sinh khó có thể trở thành hiện thực bởi sự không tương thích trong nền tảng lý thuyết mà những trường phái nghiên cứu này được xây dựng. Về đại thể thì sự gợi ý của Trosky quy những nghiên cứu hình thức luận về những nghiên cứu kỹ thuật thơ ca (một ngôn ngữ học về thơ ca) thay vì chấp nhận cái tham vọng của nó xây dựng nên một thi pháp  học sẽ trở thành lý thuyết về văn chương; hệ quả là một “giải pháp” như thế sẽ tước đi cái mới của chủ nghĩa hình thức nghĩa là tầm quan trọng hàng đầu mà trường phái này gán cho chất liệu ngôn ngữ trong quá trình xây dựng một lý thuyết văn học, và thu hẹp khuynh hướng nghiên cứu này vào lĩnh vực thuần tuý kỹ thuật, một kết quả nghiên cứu bổ sung cho một cách hình dung về văn chương với tư cách sự phản ánh hiện thực xã hội - lịch sử.

Theo một định hướng khác, Pereversev, kẻ bảo vệ một thứ xã hội học dung tục, bằng quan niệm coi văn chương như một sự phản ánh trực tiếp những lực lượng và phương thức sản xuất đã phản bác lại những nhà hình thức luận mà không cần quan tâm đến định đề của chủ nghĩa Marx cổ điển về tính độc lập tương đối của thượng tầng kiến trúc đối với hạ tầng cơ sở.

Cuối cùng, Pavel Medvedev và V. Volochilov, những người lập nên cái mà ngày nay được gọi là “nhóm Bakhtine”, coi chủ nghĩa hình thức như là kẻ thù và phê phán những nhà hình thức luận bằng một quan điểm “có tính nội tại”, nghĩa là một sự phê phán hướng vào bên trong hệ thống hình thức luận, hòng rút ra từ đó những bài học để xây dựng nên một lý thuyết văn chương. Trong con mắt họ, thứ lý thuyết này không phải được xây dựng nên bất chấp mà là từ chủ nghĩa hình thức. “Tất cả những khoa học trẻ, - Medvedev kết luận – và lý thuyết văn chương mác xít là một khoa học trẻ, cần phải nhận thức đuợc những kẻ thù nguy hiểm hơn là những bạn đồng hành vớ vẩn. Khoa học văn chương Marxisme và chủ nghĩa hình thức gặp nhau và đối đầu trên cơ sở một vấn đề có tính thời sự nhất hiện nay - vấn đề về tính đặc thù (của văn bản văn chương)”.

Ngày nay, chúng ta có thể hiểu được sự bất lực của thi học trong việc trả lời những câu hỏi được đặt ra từ nhiều phía, trong sự tĩnh tại về lý thuyết của chủ nghĩa hình thức, thứ tĩnh tại khiến cho họ không thể vượt qua được tính mờ đục của ký hiệu (signe) và sự biểu hiện. Dẫu tác phẩm văn chương là một hệ thống ký hiệu, một bề mặt vật chất phối hợp những thành tố đã có (des élément déjà-là), một cấu trúc mà ý nghĩa có tính siêu nghiệm soi chiếu trên đó được đảm bảo về một ý thức về sự siêu nghiệm của những chủ thể luôn luôn có đó (des sujet toujours-là) – những định đề đó về một hệ số bị sự biểu hiện đánh bẫy không hề gây cho thi học bất cứ một sự hồ nghi nào. Người ta có thể vượt qua điều đó hay không trong một thời đại mà những khám phá của Freud không được đảm bảo bởi những lý thuyết về ngôn ngữ học và ngôn ngữ học đang trở thành chủ nghĩa cấu trúc không thể nghi ngờ gì về lý thuyết siêu hình thức ? Những sự kiện lịch sử đã trả lời là không.

Vậy mà những nghiên cứu của Bakhtine cũng như nhóm của ông lại cho chúng ta biết rằng việc dịch chuyển những vấn đề hình thức luận và / hoặc thi pháp học là hoàn toàn có thể nếu người ta tra vấn về hoạt động biểu nghĩa của văn chương từ việc quan sát vị trí của nó (tác phẩm văn chuơng cụ thể - ND) trong lịch sử những hệ thống biểu nghĩa và mối quan hệ của nó với chủ thể phát ngôn (sujet parlant). Những vấn đề mà Bakhtine và nhóm của ông đặt ra về thi học hình thức luận có thể tóm lược trong hai hệ thống :

1. Ngôn ngữ văn chương (langage poétique) là một hành chức mà các dạng thức của nó có một sự tồn tại cụ thể trong lịch sử của những hệ thống biểu nghĩa. Từ đó đặt ra vấn đề thứ nhất : cần phải nghiên cứu ngôn ngữ văn học trong một tác phẩm văn học cụ thể và cái vị trí sai biệt của nó trong lịch sử những hệ thống biểu nghĩa chứ không thể đồng nhất trong trường Một nghĩa và Một ý thức. Quan điểm này kéo theo hình dung về khoa học văn chương như là một nhánh của khoa học về các hệ ý thức (science des idéologies)  và đòi hỏi, trên quan điểm này, một sự khảo sát về các thể loại văn học. Điều này sẽ được Bakhtine thực hiện trong chương bốn của cuốn sách này (Cuốn Những vấn đề thi pháp Dostoievski).

2. Nếu như trong ngôn ngữ học, ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, thì đối với khoa học văn chương - cũng như tất cả những khoa học khác về các hình thái ý thức – ngôn ngữ là một sự thực hành mà người ta phải tính tới các chủ thể (đặc biệt là chủ thể phát ngôn – người phát, destinateur, theo mô hình của Jakobson) và cách thức mà những chủ thể đó tái phân bổ lại hệ thống ký hiệu. Từ đó đặt ra vấn đề thứ hai : phải tìm ra trường lý thuyết có thể tránh xa được nhị phân gehalt-gerstalt, nhưng đồng thời cũng là nhị phân ngôn ngữ - tư tưởng, và làm lộ ra cái mảnh đất mà trên đó, sự hành chức của từ với tư cách là tín hiệu trong ngôn ngữ và một chức năng tư tưởng trong sự thực hành đặc biệt và có tính lịch sử thực hiện qua ngôn ngữ được đúc kết. Ở đây, người ta sẽ đi dần tới một sự tái lập lại về đối tượng ngôn ngữ (objet langage), rời xa tư tưởng về sự trình bày (idéologie de représentation), và coi sự biểu đạt (signification) như một hành chức (fonctionnement) cụ thể, trong một sự biến đổi liên tục (transformation constance) tuỳ theo tình thế cụ thể của chủ thể trong lịch sử : như một hành ngôn - diễn trình (énonciation-procès) tạo lập nên một nghĩa (và đồng thời, một tư tưởng), tuỳ theo mối tương quan cụ thể của chủ thể và ngôn bản của anh ta (khác với Ngôn ngữ), ở đây và ngay bây giờ. Vấn đề thứ hai này đòi hỏi một lý thuyết về chủ thể và nghĩa với tư cách một sản phẩm của ngôn ngữ. Một khái niệm như thế cho tới lúc đó vẫn còn chưa tồn tại. Bakhtine và bạn bè của ông đã suy ngẫm về khái niệm “từ” mang nghĩa bổ sung khi mà ông rời lĩnh vực ngôn ngữ trung tính để đi sâu vào lĩnh vực truyền thông (communication) với tư cách là một ngôn bản hướng tới người khác (chúng ta sẽ trở lại vấn đề này). Đề xuất (của họ) vẫn còn mang tính phỏng chừng và thiếu chính xác nhưng đầy trực cảm, một trực cảm báo trước những phân tích của freud, trong vị trí mà họ gán cho ham muốn của kẻ khác (désir de l’autre)… Đó là những gì mà chúng ta sẽ đọc trong chương năm trong cuốn sách của Bakhtine.

Trước khi trình bày cụ thể hơn việc Bakhtine đã biến đổi thi học hình thức ra sao, chúng tôi cần phải nhấn mạnh những giới hạn về lý thuyết của văn bản này, - giới hạn lịch sử, xã hội, văn hoá, - những giới hạn có thể làm ngạc nhiên người đọc Pháp hiện nay. Những giới hạn đó bao gồm : khuynh hướng đề cao tâm lý học (psychologisme), thiếu một lý thuyết về chủ thể, phân tích ngôn ngữ còn ở mức sơ đẳng và ảnh hưởng một cách vô thức của văn hoá thiên chúa giáo (christianisme) trong ngôn ngữ khoa học (langage humaniste) (ông thường xuyên đặt vấn đề về “tâm hồn” và “ý thức” của nhân vật). Những điều đó liệu có đóng khung tầm quan trọng của văn bản này trong những viện bảo tàng văn chương và những nhà lưu trữ? Chúng tôi nghĩ rằng không. Trong lời nói đầu viết cho lần xuất bản đầu tiên của cuốn sách này, Bakhtine nói rõ ông chỉ giới hạn mục đích công việc của mình ở việc đặt vấn đề chứ không phải là giải quyết vấn đề. Điều lưu ý này giới hạn những gì mà người ta có thể đòi hỏi ở văn bản này. Mặt khác, tôi cho rằng khi mà tính hiện đại làm mới lại những công trình quan trọng quá khứ, thì hoàn toàn không phải để quy theo kiểu mẫu của những công trình đó mà cũng không phải để xử lý những công trình cũ như những vật trong bảo tàng. Trái lại, đó là để rút ra từ lớp đất quặng của những hệ tư tưởng già cỗi cái hạt nhân nối kết với những nghiên cứu tân tiến nhất hiện nay, cái làm cho những con người quá khứ trở thành những người báo trước không được biết đến và bản thân họ cũng không tự biết. Điều đó có nghĩa là việc đọc của chúng ta thậm chí phải đạt đến cái có thể gọi là một cái khách quan có tính chủ quan (“cái mà tác giả thực sự muốn nói”) để làm phát lộ giá trị khách quan của văn bản đối với ngành nghiên cứu mũi nhọn mà nó đề cập đến. Đó thực sự là điều chúng tôi muốn khi đọc lại những công trình của Bakhtine, trong một niềm tin tưởng rằng cách tốt nhất để đưa những nghiên cứu cũ vào đời sống học thuật hiện đại đó là trong chính những gì mà chúng muốn nói với chúng ta, về những khó khăn mà trước đây là của họ và ngày nay là của chúng ta. Hiển nhiên, muốn có một hiểu biết đầy đủ thì người ta phải tiếp xúc với văn bản trong trạng thái trọn vẹn và đó chính là những gì mà nhà xuất bản Seuil giới thiệu với chúng ta lần này : bản dịch đầu tiên ra tiếng Pháp một công trình của Bakhtine.

II. Từ Socrate đến chủ nghĩa tư bản.

Trước chủ nghĩa hình thức, thi học ở Nga trước hết là một thi học lịch sử. Cuốn sách có tính nền tảng của Vesselovski, Istoriche poetika (Thi học lịch sử) là viên đá quan trọng đầu tiên của khuynh hướng này. Dẫu còn rất nhiều lưỡng lự và sai lầm nhưng lần đầu tiên, Vesselovski đã thiết lập nên, một cách có hệ thống và chặt chẽ, một lịch sử của các thể loại văn học trong mối tương quan với lịch sử vật chất.

Sau những công trình của những nhà hình thức luận và sau khi đã hoàn toàn hiểu rằng những công trình của các nhà hình thức luận là hoàn toàn cần thiết trong việc nghiên cứu sự biểu nghĩa trong tính vật chất của nó, Bakhtine lại quay trở về với truyền thống thi học lịch sử. Mục đích của những phân tích của ông không phải là nghiên cứu xem “tác phẩm đã được làm ra như thế nào” mà là định vị nó trong một hình thái học về những hệ thống biểu nghĩa trong lịch sử. Đồng thời, ông cũng đề xuất một nghiên cứu cấu trúc tiểu thuyết trong tính đặc thù về cấu trúc của nó (tính đồng đại) cũng như sự xuất hiện của nó trong lịch sử. Đối với ông, cấu trúc tiểu thuyết là một “mô hình thế giới”, một hệ thống biểu nghĩa mà người ta cần phải nắm bắt trong tính mới mẻ về mặt lịch sử của nó; bằng cách đó mà đồng thời, nó cũng được nghiên cứu trong một cái nhìn có tính lịch sử định vị trong những mối quan hệ với một truyền thống : thể loại với tư cách nơi lưu giữ ký ức văn học, và những khám phá trong nghiên cứu đồng đại được khẳng định bởi những khám phá trong nghiên cứu lịch đại (“cái lịch đại khẳng định cái đồng đại”). Vậy là trong khi xác lập những nét chính của cấu trúc tiểu thuyết của Dostoievskie, Bakhtine đã nhận ra trong đó những nét đã được báo trước trong truyền thống ménippé và carnavale (xem chương IV).

Bằng cách đó, nghĩa là gắn một hệ thống biểu nghĩa đặc thù (tiểu thuyết của Dostoievskie), cái mà Bakhtine gọi là đa thanh (polyphonique) hay có tính đối thoại (dialogique), với một truyền thống (ménipée, carnaval) và đối lập với một truyền thống khác (mà Bakhtine gọi là độc thoại và ông dẫn Tolstoi như là tác giả tiêu biểu), Bakhtine đã phá vỡ một lỗ hổng lớn trong thi học hình thức luận. Thay cho những thống kê ít nhiều võ đoán mà các nhà hình thức luận đã làm đối với những thành phần của truyện kể, Bakhtine đã tiến hành một hình thái học về thế giới văn chương, cái này không thể quy giản vào cái khác, đồng thời cắt dòng chảy tuyến tính của lịch sử thành những khối (blocs) của sự thực hành biểu nghĩa (pratiques signifiantes). Một lịch sử riêng biệt của truyện kể được phát lộ và công việc của nhà khoa học đối với lịch sử đó chính là cụ thể hoá tính đa dạng (pluralité), nhưng đồng thời cả những tác động ý thức hệ.

Vậy là không phải là Truyện kể nói chung mà là Những truyện kể số nhiều, hay đúng hơn là những hệ thống biểu nghĩa tương ứng với những kiểu thực hành biểu nghĩa (đối thoại, độc thoại…) với tư cách là những mô hình về thế giới : thi học hậu hình thức luận nhắm đến những đối tượng trong tính đặc thù của nó, được chỉ rõ sự sai biệt bằng hình thái học.

Nhưng đó cũng không phải một thứ lý thuyết duy xã hội và duy lịch sử tầm thường : những cấu trúc biểu nghĩa không phản ánh những cấu trúc lịch sử - xã hội; nó có một lịch sử riêng xuyên qua lịch sử của những phương thức sản xuất  và câu  trả lời của riêng nó, từ vị trí của nó cho những vấn đề của lịch sử những phương thức sản xuất, một câu trả lời nối liền “những tư tưởng sáng tạo” (idéologie formatrice) của “thời đại  Socrate”, của hội carnaval trung cổ (với tiếng kêu của những người Lamã chống lại Luật của Cha : “Sia amazzato il signore Padre!”) và của chủ nghĩa tư bản, ở đó, “như là trên quảng trường ở Athene, đối đầu những con người và những tư tưởng…”

Xuyên qua phin lọc “cấu trúc luận” của những nhà hình thức luận, thi học lịch sử đi dần tới chỗ định nghĩa đối tượng của nó là loại hình những hệ thống biểu nghĩa, và một quan niệm về một lịch sử tính riêng của những phương thức biểu nghĩa, mà không làm cho nó bị phụ thuộc vào một chủ nghĩa quyết định luận xã hội.

III. Từ đối thoại.

Nhưng cái thi học mà Bakhtine gọi là cổ điển vẫn đạt tới sức mạnh của nó cả khi ông nghiên cứu văn bản tiểu thuyết với tư cách một hiện thực ngôn ngữ (matérialité linguistique). Sự khác biệt không thể hoà giải được trong lối tiếp cận của Bakhtine và chủ nghĩa hình thức thể hiện ở quan niệm riêng của mỗi bên về ngôn ngữ.

Bakhtine dùng khái niệm slovo (phiên âm từ tiếng Nga) để biểu thị cái thực tại ngôn ngữ mà ông quan tâm. Nghĩa trực tiếp thứ nhất và thông dụng của từ này là “lời” (mot – tiếng Pháp), đó cũng chính là nghĩa được sử dụng trong cuốn sách này để dịch khái niệm slovo. Tuy nhiên, từ này còn có một nghĩa thứ hai, hiếm dùng hơn, với một sự mở rộng nghĩa cổ và có tính ẩn dụ, đó là “diễn ngôn” (discours). Vậy mà chính những gì mà khái niệm này gợi ra, báo trước và đặt ra chính là khái niệm ngôn ngữ học vẫn còn thiếu ở thời đó : khái niệm chỉ ngôn ngữ được phát ra bởi một chủ thể và/hoặc cái mà một chủ thể thực hiện trong ngôn ngữ (le concept d’un langage porté par un sujet et/ou d’un sujet se faisant dans la langage). Những khái niệm diễn ngôn (discours), phát ngôn/ hành ngôn (énoncé/énonciation) được tạo nên trong ngôn ngữ học hiện đại để đạt đến trường ngữ nghĩa này và lấp đầy, dưới tác động của phân tâm học, cái khoảng trống mà các khoa học thời đó (cú pháp, ngữ nghĩa, phong cách hay thi học) để lại cho Bakhtine. Ông là người đầu tiên nhận ra rằng những phạm trù được đề xuất trong ngôn ngữ học và được thi học chấp nhận là những phạm trù về ngôn ngữ (langage), một sự trừu tượng hoá chủ thể (une abstraction fait du sujet), và nếu như trong ngôn ngữ học người ta đã phải lược quy (đối tượng) để trở thành một khoa học thì tuyệt đối lại không phải là những gì đã diễn ra trong những thực hành biểu nghĩa phức tạp (như là tiểu thuyết). Ở đó, cái “điều đó có nghĩa” là từ một chủ thể và cùng với chủ thể đó.

Tính xác thực của lời/diễn ngôn đối với Bakhtine không phải được xác lập trong một sự tham chiếu vào những yếu tố bên ngoài diễn ngôn mà nó phản chiếu. Tuy vậy, nó cũng không trùng khít với cái chủ thể kiểu Décarte, làm chủ diễn ngôn của chính nó, đồng nhất với chính nó và tự biểu hiện chính nó. Lời/diễn ngôn này được xem như là một sự tái phối trí trên rất nhiều những lời nói khác nhau mà một cái “tôi” được nhân lên đồng thời làm chủ. Trước hết, nó có tính đối thoại bởi ta có thể nghe thấy trong đó tiếng nói của kẻ khác - người nhận (destinataire) -  nó cũng trở thành có tính đa thanh sâu sắc bởi lẽ rất nhiều tiếng nói khác nhau cùng vang vọng trong đó. Cái mà Bakhtine nghe thấy trong lời/diễn ngôn đó hoàn toàn không có tính ngôn ngữ. Đó là sự phân chia của một chủ thể, chia cắt  trước hết bởi vì nó được tạo nên bởi kẻ khác, để trở thành, dọc theo (hành trình sinh thành đó?) một kẻ khác của riêng nó, và bởi thế nên đa bội, không thể nắm bắt và có tính đa thanh. Ngôn ngữ của một tiểu thuyết chính là mảnh đất mà sự phân nhỏ của một cái “tôi” - sự biến hình (polymorphisme) của nó – vang vọng lẫn nhau. Vậy nên khoa học về tính đa thanh đó là một khoa học về ngôn ngữ, nhưng không phải là ngôn ngữ học : Bakhtine gọi đó là siêu ngôn ngữ học (métalinguistique). Khái niệm này ngày nay được dùng để chỉ một cấp độ nghiên cứu cao hơn một ngôn ngữ, gọi là “đối tượng”, một hệ thống ký hiệu, nhưng cuối cùng sẽ đúng trên chính ngôn ngữ. Có lẽ chính xác hơn, nên gọi cái lĩnh vực mà Bakhtine vừa thoáng thấy là chuyển dịch ngôn ngữ (translinguistique).

Dẫu không biết đến Freud (trong cuốn sách của ông không hề có một sự tham chiếu nào đến công trình của những nhà phân tâm học này), Bakhtine vẫn nghiên cứu “lời”, nghĩa là diễn ngôn - bởi lẽ ông có thể đề cập đến một câu, một phân đoạn cũng như đơn giản, một từ theo đúng nghĩa đen – như là một mảnh đất nơi những lời khác nhau, đồng thời, cũng có nghĩa những cái “tôi” phát ngôn, đối đầu nhau. Tính đối thoại sẽ chính là khái niệm chỉ bản chất hai mặt, vừa thuộc về tôi, vừa thuộc về kẻ khác của một diễn ngôn, đó chính là khái niệm spaltung mà phân tâm học xác lập nên với tất cả sự cẩn trọng khoa học, một hình học (topologie) về chủ thể trong tương quan với “kho tàng những cái biểu đạt” (Lacan), tồn tại ở bên ngoài nó. Quan niệm về tính đối thoại sẽ nhìn thấy trong mỗi lời lời về một lời và khơi gợi lời : và chính vì thuộc về tính đa thanh - một không gian liên văn bản – mà một lời trở thành một lời tròn vẹn (plein). Cuộc đối thoại của các lời/diễn ngôn là bất tận : “Sự bất tận của những cuộc đối thoại bên ngoài che đậy sự trong sáng toán học, tương tự như sự bất tận của những cuộc đối thoại bên trong”. Trong tính liên văn bản đó ( tạm dịch khái niệm plurivocité) đó, các lời/diễn ngôn không có một nghĩa cố định (tính thống nhất của cú pháp và ngữ nghĩa tan vỡ, chuyển tải bởi sự đa dạng những “lời”, những “trọng âm” của những “kẻ khác”); không có một chủ thể cố định để đảm đương tính cố định về nghĩa (bởi lẽ “con người” của Bakhtine không phải là cái gì khác ngoài “chủ thể của một sự kêu gọi” - một ham muốn?); không có một người nhận thống nhất lắng nghe nó (“ngôn từ của Dostoievski không tự làm đẹp, Bakhtine viết, bởi lẽ không có ai trước nó). Lời/diễn ngôn phát tán trong “hàng nghìn diện mạo” trong muôn vàn văn cảnh – trong văn cảnh của những diễn ngôn, trong tính liên văn bản mà ở đó phát tán và tan hoà những chủ thể phát ngôn nhưng đồng thời cũng cả những khách thể đón nhận lời nói, trong đó có chúng ta : một “đơn vị” (unité) mà Bakhtine gọi là “con người” nhưng đó cũng chính là cái mà ông kêu gọi một sự nổi loạn chống lại mọi sự định nghĩa bởi lẽ “con người không bao giờ trùng khít với chính nó”.

Người ta sẽ thấy rằng, theo những bước tiến hành rất chặt chẽ của thi học hình thức, Bakhtine chắc chắn đã bắt đầu trượt sang một khuynh hướng mang mầu sắc tâm lý học. Trên thực tế, dẫu rằng cùng với sự tiến triển của cuốn sách, quan niệm về tính đối thoại kết thúc trong việc trở thành một khái niệm hình thức, một nguyên tắc hình thức cố hữu của ngôn ngữ, thì ban đầu, nó trước hết là một định đề tâm lý học : cuộc đối thoại mà Bakhtine nghe thấy chính là cuộc đối thoại giữa “cái tôi” của tác giả và “cái tôi” của những nhân vật là bản sao của y. Vậy mà chúng ta sẽ đọc thấy lặp đi lặp lại trong cuốn sách này những công kích rất dữ dội chống lại tâm lý học, và trên thực tế, không có bất cứ sự viện dẫn nào đến tính chủ quan  của tác gỉa hoặc của những nhân vật mà y sáng tạo nên. Bakhtine tìm kiếm chủ thể nhưng không phải như trong tâm lý học mà như là sự tìm kiếm lời về lời (instance de parole), ông thăm dò “cái tôi” nói năng nhưng là để chứng minh rằng cái tôi đó không tồn tại : rằng tiểu thuyết của Dostoievski không có một chủ đề (nhưng cũng có thể hiểu là một chủ thể - đều dùng để dịch khái niệm sujet) như là một trục chính của sự trình bày.

Dẫu vậy, không vì thế mà một vốn từ tâm lý học, hay đúng hơn, thần học, không ngự trị trong những phân tích của Bakhtine : khái niệm “ý thức” (conscience) có lẽ được dùng nhiều hơn là khái niệm “diễn ngôn” (discours) và trong khái niệm “lời” (voix) không phải là không có những vang vọng siêu việt. Vậy mà cần phải đọc trong những tầng văn hoá truyền thống Nga chi phối thói quen ngôn ngữ để thấy được cái khoảng cách sai biệt (écart) mà Bakhtine đã đưa vào trong những phân tích của mình. Khái niệm “ý thức” được sử dụng để chỉ sự kiểm chứng phê phán những tình thế (situation) trong diễn ngôn của nhân vật, khi mà diễn ngôn quay về với chính nó : “ý thức” không có cái gì khác ngoài tương liên (với) “ý thức” của nhân vật khác, vả chăng, khái niệm tồn tại bởi nơi gắn bó, như là để được cụ thể hoá bởi chính nó, với chính khái niệm diễn ngôn (“retch”). Về phần khái niệm “lời” (voix), đó không phải là một phonè trong những văn bản cổ Hy lạp trùng khít với chủ thể của nó : đó là một phonè bị hư hoại, bị mất đi tính xác thực, băn khoăn về vị trí nơi phát ra nó : vị trí của chủ thể nói.

Văn bản của Dostoievski được trình bày như là một sự đối đầu của những lời khác nhau : đối lập của những diễn ngôn, một tập hợp có tính đối âm, tính đa thanh. Nó không tạo nên một cấu trúc có thể tổng hợp lại : không có tính thống nhất giữa chủ thể và ý nghĩa, đa dạng (tạm dịch pluriel), chống lại sự cực quyền (anti – totalitaire), chống lại thần học, “mô hình”  Dostoievski tiến triển một sự mâu thuẫn thường trực nhưng không có gì chung với biện chứng của Hegel. Lôgích của nó, Bakhtine nói với chúng ta, là logích của giấc mơ : duy trì sự mâu thuẫn hay/và sự tồn tại đồng thời của cái cao và cái thấp, của đức hạnh và sự hư hỏng, của cái thật và cái giả, của đức tin (foi) và sự báng bổ (transgression), cái thiêng liêng và cái tầm thường. Chúng ta hãy lưu ý là cái “lôgích của giấc mơ” này được thiết lập trên bình diện cái được biểu đạt (signifié), chứ không phải là cái được biểu đạt (signifiant), như là Freud đã dạy cho chúng ta. Nhưng, như Bakhtine định nghĩa, lôgích này đủ để biến mô hình Dostoievski thành một thứ ma trận (matrice) không có sự định nghĩa (sans définition) và không có sự xác quyết (indécidable) (khái niệm của chính Bakhtine).

Trong cái thế giới mở và không có sự xác quyết đó, nhân vật không phải là cái gì khác ngoài những lập trường khác nhau của một cái “tôi”, kẻ viết qua một cái “tôi” khác; một diễn ngôn (một “lời”) đối thoại với diễn ngôn của cái “tôi”, kẻ viết và với chính nó. Dostoievski không xây dựng những nhân vật - điển hình hay tính cách (personnage-type ou tempérament) mà là những diễn ngôn của nhân vật về chính nó và về thế giới. Nhân vật ấy là một “tiếng nói thuần tuý”, chúng ta không nhìn thấy nó và thậm chí cũng không nghe thấy tiếng của nó; chúng ta chỉ nghe thấy tính khách thể (objectivité) của nó tan chảy trong những diễn ngôn.

Tác giả không phải là tiếng nói tối cao đảm bảo tính xác thực trong sự đối đầu của những diễn ngôn. Sự hình dung của tác giả, Bakhtine nói cho chúng ta biết rằng, đó là sự hình dung về một diễn ngôn (một “lời”) hay tốt hơn, một diễn ngôn về một diễn ngôn khác. Diễn ngôn của tác giả là một diễn ngôn về một diễn ngôn, một lời với một lời, chứ không phải là một diễn ngôn trên một diễn ngôn (một siêu diễn ngôn – métadiscours - thực sự). Không có một nhân vật đảm nhiệm sự đồng nhất trong sự đối đầu của các diễn ngôn : các diễn ngôn được tập hợp, nhưng không bị đồng nhất, nó không đạt đến đỉnh cao trong một cái tôi ổn định giống như cái tôi của tác giả  tiểu thuyết đơn âm. Chính “tính đối thoại” thể hiện việc cùng tồn tại của những cái đối lập, phân biệt với “tính đơn âm” (đặt thành định đề tertium non datur), cái mà Freud khám phá thấy trong cái vô thức và những giấc mơ đã được Bakhtine định danh một cách sáng suốt đáng ngạc nhiên là lôgích của giấc mơ.

Điều mà Bakhtine nghe thấy trong “hình học” của chủ thể trong diễn ngôn tiểu thuyết đã khiến cho lý thuyết văn chương của ông xích lại gần với văn chương hiện đại. Sở dĩ như thế là vì chính cái dạng thức tiểu thuyết đa thanh xác lập trên lỗ thủng của cái “tôi” mà Bakhtine nhận diện ra ở Dostoievski (Joyce, Kafka, Artaud đến sau Dostoievski (1821-1881) nhưng Mallarmé là người cùng thời với ông) sẽ chính là nơi khai triển văn chương hiện đại : đa ngôn ngữ, sự đối đầu những diễn ngôn và những hệ tư tưởng, không kết luận và không có sự tổng hợp – không có “tính đơn âm”, không có tâm điểm. “Sự huyễn tưởng”, “như trong cõi mộng”, tính “nhục cảm”, đó là những gì người ta nói về tính đối thoại không xác quyết, tính đa thanh bất tận (cette polyphonique non-finie).

Sẽ là vô ích khi tìm trong những quan điểm của Bakhtine duy nhất sự hiện diện của Hégel (biện chứng  cùng/khác) đối lập với ảnh hưởng của Kant nơi các nhà hình thức luận. Bất chấp những điểm tương đồng (“ý thức” được xác lập bởi cái nhìn của kẻ khác),

Sự quan tâm của ông dừng ở tính cụ thể của một hệ thống biểu nghĩa (gọi là văn học), hướng đến lôgích đặc thù của nó (Bakhtine nhấn mạnh tính đặc thù của “mô hình nghệ thuật về thế giới và đối lập nó với chẳng hạn, mô hình triết học). Đến mức mà có lẽ phải coi ông như gương mặt báo trước ngữ nghĩa học hiện đại chăm chú vào phân tâm học và đề xuất một loại hình học về những hệ thống biểu nghĩa.

Tuy vậy, sự đặc sắc của Bakhtine không phải chỉ thể hiện trong những sức mạnh về phương pháp luận : quan điểm lịch sử (histiricisme) một bên và sự phân tích những dạng lời nói khác nhau trong nội bộ văn bản một bên. Sư đặc sắc còn thể hiện ở việc dường như được chương trình hoá từ chính tiểu thuyết của Dostoievski, Bakhtine là người đặt vấn đề và khám phá sự phân chia của chủ thể và sự phát lộ của nó trong niềm ham muốn về những cái biểu đạt. Điều đó cũng nói lên là sự phá huỷ thi học hình thức luận và/hoặc cổ điển mà Bakhtine tiến hành được dẫn dắt đồng thời bởi một phương pháp luận khoa học mới cũng như một “hiện thực” mới : không phải là một truyện kể bất kỳ, trung tính, ngoài thời gian và phi không gian, mà là văn bản hiện đại - gợi nhắc và tô đậm lại một truyền thống (ménipée, carnaval, đa thanh) – cái mà thi học truyền thống không bao giờ có thể đề cập đến.

Thực ra thì không phải là chủ nghĩa hình thức không biết đến Dostoievski, nhưng, trung thành với thể thức nghiên cứu của mình, những nhà nghiên cứu này chỉ giới hạn ở việc thừa nhận rằng tác phẩm của Dostoievski là sự tái sắp đặt lại những thủ pháp hình thức đã có ở những người tiền nghiệm (quan trọng hơn Dostoievski là Gogol), mà không phải là tính độc đáo đầy khác biệt và tính mới mẻ nhìn từ cái nhìn lịch sử bởi lẽ là một sự sắp đặt lại mô hình văn học để hiểu thế giới, để tổ chức cái nhìn ấy một cách gắn kết hữu cơ hơn.

Ở đây, chúng tôi cũng không có ý định và cũng không có khả năng đề cập đến một khoảng mênh mông các công trình mà nền lý luận văn học Nga – Xô đã dành cho các tác phẩm của Bakhtine. Chúng ta chỉ nhắc qua thái độ của những người thủ cựu về luân lý, những người bảo vệ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa – tù nhân của một quan niệm về văn chương với tư cách một hình chiếu của hiện thực xã hội và hiện thực tâm lý – đã dành cho các sáng tác của Dostoievski. Họ dè chừng sáng tác của ông nhân danh “sự trong sạch tinh thần của xã hội” và khiến cho tác phẩm của ông bị mất giá trong một thời gian dài. Lối diễn dịch này, ở trạng thái ít đơn giản nhất, ngày nay có vẻ như đã được vượt qua. Năm 1959, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô đã xuất bản một tuyển tập lớn Tác phẩm của Dostoievski. Trong tuyển tập này, chúng ta phát hiện ra bài viết của A. Grossman Dostoievski - nghệ sĩ và của A.A. Tchitcherine Chức năng nghệ thuật của ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Dostoievski.

Tuy vậy, tác động của cú đứt gẫy Dostoievski là đáng kể ở nước ngoài và đối với lịch sử văn chương thế giới. Một điều có thật là ở Pháp, tác phẩm của Dostoievski phải mất thời gian để xâm nhập vào nền văn hoá này và ban đầu gặp phải một sự đón nhận dè dặt : đối với thị hiếu Pháp thì đó là một tiểu thuyết “viết tồi”, dàn dựng vụng về và tư tưởng tồi. Nhưng dần dà, chính giới sáng tác lại nhạy cảm và bắt đầu thẩm thấu ảnh hưởng của Dostoievski. Giờ đây, người ta phải thừa nhận là văn chương Pháp trong nửa đầu thế kỷ XX đã luôn luôn hướng đến Dostoievski và tự nhận là người tiếp nối sự đứt gẫy về đạo lý và phong cách mà Dostoievski đã khởi xướng.

Trước hết là sự đột biến về phong cách. Cuộc tranh luận Clauden-Gide đã tìm thấy “người báo trước” trong “lương tâm bị dằng xé” của Đốt (giữa một bên là thiên chúa giáo và một bên là chủ nghĩa nhân văn). Gide đã dành “Những bài giảng Vieux-Colombier” để nói về Đốt và chúng minh rằng trong một văn phong rườm rà của nhà văn Nga “những bảng giá trị mới” mà Đốt mang đến, đồng thời vẫn không quên cái phong cách đa thanh trứ danh. Trong một hệ vấn đề nhân văn gần gũi hơn, Camus chỉ đọc thấy trong Đốt một hệ ý thức và tìm thấy trong những nhân vật của ông hiện thân của con người phi lý.

Tuy vậy, chính tính đa thanh của Đốt đã tác động mạnh mẽ nhất đến sự chuyển đổi của nền văn chương Pháp mới. Trong sự giải thể của tiểu thuyết tính cách (roman à caractère) và sự xuất hiện của tiểu thuyết vấn đề (roman problèmatique) - điểm giao nhau của nhiều tiếng nói về một lịch sử bị tan vỡ, kết tinh trong một chủ thể, kẻ bắt “từng thuỳ não phải đối thoại với nhau” - người ta phải chịu ơn Đốt : Malraux coi Đốt là một bậc thầy. Khi mà tiểu thuyết mới phân tích bằng kính hiển vi những “trạng thái lang thang” (état baladeur), “giống như chuyển động của những phân tử”, và ở thẳm sâu, phá vỡ tính tuyến tính của trong cuộc đối thoại giữa những chủ thể cố định, nhưng người này coi Đốt là người đầu tiên mở ra cánh cửa vào thế giới ngầm này.

IV. Tính đa thanh là một tư tưởng?

Chủ thể bị chia xẻ bởi sự mong chờ của y – cũng như ham muốn của y - về kẻ khác, điều đó không chỉ làm tan vỡ tính đồng chất về ngữ nghĩa của lời với tư cách một đơn vị ngôn ngữ.

Nó còn làm tan vỡ tính đồng nhất về mặt tư tưởng của phát ngôn và của văn bản nói chung, nghĩa là cấu tạo của một tư tưởng (đồng nhất với chính nó) : nó giải thể nguyên tắc tư tưởng về tính đồng nhất.

Điều đó có nghĩa là trong tính đa thanh tiểu thuyết, những hệ tư tưởng vang vọng lẫn nhau, được đảm nhiệm hoặc bị tra vấn bởi những lời khác nhau (nhân vật, tác giả), nhưng không có một tư tưởng nào được đặt định hoặc được trình bày như là chính nó. Một văn bản chỉ có tính tư tưởng, theo Bakhtine, khi nó dựa trên “tính thống nhất của một ý thức”, nghĩa là tính thống nhất của một cái tôi nói năng, đảm bảo tính chân thực của một tư tưởng. Đó chính là trường hợp của vũ trụ đơn âm, đạt đến đỉnh cao trong triết học duy tâm mà Bakhtine tìm thấy mẫu mực trong triết học duy lý thế kỷ XVII – XVIII cho đến chủ nghĩa xã hội không tưởng với niềm tin vào sức mạnh của xác tín.

Vậy mà, trong một văn bản đa thanh, những tư tưởng bị nhào nặn theo tiếng nói của một chủ thể bị phân chia : những tư tưởng đó bị chia nhỏ trong một không gian liên văn bản – trong “giữa những cái tôi” – và thân phận (statut) của nó tương đương với thân phận của “lời” có tính đối thoại. Luôn luôn lắng nghe thời đại của mình, lắng nghe lịch sử quá khứ và những gì đang vang lên, Đốt (cũng hư tất cả những nghệ sĩ của nghệ thuật đa thanh khác), thu nhận những tư tưởng và biến nó thành “nguyên mẫu” hay là những chủ thể của lời nói (des instances de parole).  Chính đó là cái cho phép Bakhtine khẳng định rằng Dostoievski (người đạo diễn, ngày nay người ta nói như thế) không suy tư (với các ý tưởng) mà đặt đối đầu (những quan điểm, những ý thức, những lời : những văn bản). Tư tưởng, hay đúng hơn, nhưũgn tư tưởng ở đó, trong văn bản tiểu thuyết - một cách đối lập, nhưng không có thứ bậc, không được nghiền ngẫm, không bị đánh giá, nó chỉ vận hành như là chất liệu cho một sự thành tạo. Trong ý nghĩa đó, văn bản đa thanh chỉ có một  tư  tưởng : tưởng về sự thành tạo, chyên chở những hình thức.

Văn bản bị tước đi tính tư tưởng, và bởi sự đối đầu của những cái tôi nói năng, hay là những văn bản, làm cho nó thấy được nền tảng vô thức của nó. Bakhtine chỉ ra ở đây một sự khác biệt cơ bản giữa tư tưởng và  văn bản, một sự khác biệt mà văn học hiện đại chỉ việc tiếp tục đào sâu : “Tương tự như là phải ghi nhận sự cắt đứt giữa khoa học và tư tưỏng (“khoa học, một công cụ tra vấn ý thức hệ, dịch chuyển không ngừng những lỗ hổng mà nó đã mở ra”, Badiou), cũng cần thiết phải ghi khắc một sự cắt đứt khác giữa tư tưởng và văn bản”.

Văn bản (đa thanh) không có mang tính tư tưởng riêng, bởi lẽ nó không có một chủ thể (của các tư tưởng). Nó là một sự sắp đặt mà ở đó, những tư tưởng tự biểu hiện và tự cạn kiệt trong sự đối đầu.

V. Lớp tráng bạc của tấm gương.

Trong chính “sự biến mất về mặt diễn đạt” của “chủ thể” và của “tính khách quan” (cũng như tính “vật chất”, “tính tư tưởng”) Bakhtine đã phát hiện ra chính cái mà ông không thể gọi tên :  sự phân rã của hệ thống ý (systeme representatif). Đó chính là những gì mà tính đối thoại hay tính đa thanh gợi nên, đối lập với tính đơn  âm đặc thù cho diễn ngôn biểu ý.

Trên thực tế, văn bản của Đốt không “trình bày” cái gì hết : không một nhân vật, không một hiện thực, không một tác giả nào ở ngoài cái mạng lưới mà từ đó chúng đã sinh ra và trong đó chúng có được sự độc lập với nhau theo cái cách mà một “cái tôi” trong quan hệ hướng đến kẻ khác quyết định. Những văn bản này phân tích cái mối tương quan giữa chủ thể và diễn ngôn của y vậy nên chính là cái tiền - chủ thể trong những diễn ngôn sẽ trở thành, bởi chính cái đó, một cảnh trong mơ, một điểm hội tụ những sự khác biệt va chạm nhau. Tấm gương mà trong đó hiện diện một logos nguyên khối - một cái đơn âm – không còn nữa và trong lớp tráng bạc của nó, Bakhtine nghe thấy những âm thanh của cái đa thanh của Đốt.

Phát ngôn của Karamazov : “Chúa chết rồi, mọi thứ đều được phép” có vẻ đã được giải mã như là cái mà nó sẽ trở thành khi người ta chỉ cần tiến thêm một bước về cái mà nhân vật không nói : “Chúa chết rồi, tất cả đều bị cấm (một trò chơi chữ khó dịch interdit = bị cấm nhưng trong văn bản lại là inter-dit trong đó inter = với nhau, có tính liên kết và dit = nói).

Dẫu rằng sự khám phá sự cấm đoán - đồng thời nó cũng là sự xuyên qua một mặt khác của sự biẻu hiện – không phải là một cái nhìn ảo ảnh của bạn đọc, cũng không phải là một thứ mới sinh của nền văn hoá, nhưng nó cũng làm khuấy động cả một truyền thống, đó chính là cái mà quan điểm lịch sử của Bakhtine cho phép ông chỉ ra. Ông cũng khám phá ra rằng cái xuyên qua sự biểu đạt đó, cái phá vỡ chính sự biểu đạt, luôn luôn là một cái gì khác với diễn ngôn thần học, luôn luôn dụng nên một không gian có tính kịch, nơi mà cái tôi khoác mặt nạ một điệu cười lưỡng lự hoặc một sự quá độ về tình dục để bắt chước sân khấu trong sự phân tích của nó, nghĩa là chính cái chết. Từ ménipée Hy lạp đến Lucain và Petron, đến lễ hội carnaval trung cổ, - nghĩa là sân khấu nhưng không có dàn dựng cảnh, không có khán giả và sự trình diễn, nghĩa là mỗi người vừa là diễn viên vừa là khán giả, vừa là chính nó mà cũng vừa là kẻ khác, - cho đến Rabelais và Swift, cho đến Artaud và Joy và Bataille, cái cười chết người của cái “tôi” bị giải thiêng được tô đậm và cụ thể hoá, ngày càng cay độc và hữu hiệu, trong việc phá vỡ tính đơn âm của một văn bản văn chương có tính biểu hiện và trìng diễn cũng như phổ biến một lối viết giống như ống kính vạn hoa và đa bội, ở đó chúng ta không nhìn thấy gì vì chính nó đang nhìn chúng ta.

Đó cũng chính là cái mà văn bản hiện đại tiền phong chủ nghĩa đề cập, sự khám phá của cái tôi trong mối tương quan của nó với ngôn ngữ và tính dục, qua đó với tư tưởng và hệ thống xã hội : ngày càng dấn sâu vào mê cung “đa âm” – đa hình, tối nghĩa và khó nắm bắt với những cái tôi được dựng nên trong tính “đơn âm”.

Ở thời đại của chúng ta, tình trạng này đã đi đến một sự lật nhào của tình trạng lật đổ này : cho đến sự tuôn trào của cái carnaval xâm chiếm màn hình và văn học biểu hiện cái “kích dục”. Truyền thống ménipée được gợi lại với một sự thoả mãn được đồng nhất hoá; lễ hội carnaval,- lễ hội của thức ăn và phân – là hình ảnh của chính thế giới hiện đại, sự huyễn tưởng được cởi bỏ và nhân lên lôgích của giấc mơ. Sự báng bổ được “cho phép” bởi nó lật nhào pháp luật, và không một ai cảm thấy bị đe doạ : hội carnaval luôn diễn ra bên cánh nhà thờ.


[PXT1]vừa mang tính lý thuyết, vừa mang tính ý thức hệ (ideologie được thống nhất dịch là ý  thức hệ)

[PXT2]Đối tượng “văn chuơng” bị tiêu biến theo con đường đó, duới sức nặng của những phạm trù ngôn ngữ, những phạm trù đã tạo nên “đối tượng khoa học” trong những diễn ngôn hình thức chủ nghĩa. Sự chi phối đó thể hiển cả trong những cái không được nói ra. Dẫu vậy, những “đối tượng khoa học” ấy lại không hoặc không có mấy điểm chung với đối tượng nghiên cứu thực sự : tác phẩm văn học, với tư cách môộ hình thức biểu hiện đặc thù, được nắm bắt trong chủ đề, trong dạng thức “hình học”, trong lịch sử, trong hệ tư tưởng…. của chính nó.

 

Phạm Xuân Thạch dịch từ tiếng Pháp

Top