Tổng thuật 100 năm nghiên cứu lí luận văn hiến học Trung Quốc


VƯƠNG DƯ QUANG, UÔNG ĐÀO, TRẦN ẤU HOA


Tóm tắt: Bài viết tiến hành khái quát việc nghiên cứu văn hiến học Trung Quốc trong thế kỉ 20 thành bốn bộ phận là văn hiến học cổ điển, văn hiến học phân ngành, văn hiến học hiện đại, và văn hiến học tổng hợp; rồi tiến hành chọn phân tích và quy nạp các trước tác và quan điểm chủ yếu mang tính đại diện cho mỗi bộ phận, đồng thời đưa ra một vài quan điểm riêng.

Từ then chốt: văn hiến học Trung Quốc (中国文献学); thế kỉ 20 (二十世纪); nghiên cứu lí luận (理论研究).

Tác giả:        - Vương Dư Quang 王余光, GS.TS., Đạo sư Tiến sĩ, Đại học Bắc Kinh.

- Uông Đào 汪涛, TS., Đại học Vũ Hán.

- Trần Ấu Hoa 陈幼华, ThS., Đại học Vũ Hán.

Nguồn dịch: 王余光, 汪涛, 陈幼华:中国文献学理论研究百年概述(Trung Quốc văn hiến học lí luận nghiên cứu bách niên khái thuật), in trong tạp chí 图书与情报(Đồ thư dữ Tình báo­ – Thư viện và Thông tin), số 3 năm 1999, trang 12-19.

Người dịch: Nguyễn Tuấn Cường, dịch xong tháng 12 năm 2007. Trong bản dịch, những phần trong ngoặc vuông […] là của người dịch.

*

*          *

 

Từ “văn hiến học” 文献学 bắt đầu xuất hiện từ năm 1920 trong cuốn Thanh đại học thuật khái luận 清代学术概论 của Lương Khải Siêu 梁启超: “Toàn Tổ Vọng 全祖望 cũng ngưỡng mộ mà noi theo Hoàng Tông Hi 宗羲, cho rằng văn hiến học từ đó mà ra”. Ba năm sau, họ Lương trong chương “Thanh Sơ sử học chi kiến thiết” (Việc xây dựng sử học thời Thanh Sơ) của cuốn Trung Quốc cận tam bách niên học thuật sử 中国近三百年学术史 (Lịch sử học thuật ba trăm năm gần đây của Trung Quốc) lại nói: “Khoảng giao thời Minh-Thanh, các bậc đại sư phần lớn đều coi trọng sử học, có người chủ trương sử học theo nghĩa rộng, tức là văn hiến học”. Quan điểm này của Lương Khải Siêu đại diện cho cách nhìn chung của rất nhiều học giả sau này, tức là văn hiến học là cơ sở cho nghiên cứu văn hóa cổ đại Trung Quốc, công việc cần làm là hiệu khám chú thích, bỏ thô lấy tinh, bỏ ngụy giữ chân…, cung cấp tài liệu cho các ngành khác, chứ không phải là một ngành khoa học.

Trung Quốc văn hiến học khái yếu 中国文献学概要 (xuất bản năm 1928) là cuốn sách đầu tiên được đặt tên trực tiếp bằng từ “văn hiến học”. Tác giả cuốn sách là Trịnh Hạc Thanh 郑鹤声 cho rằng: “Các việc tập hợp, phiên dịch, biên toản, gọi là văn; các việc thẩm đính, giảng tập, in khắc, gọi là hiến; sắp xếp và trình bày lại những vấn đề ấy, thì gọi là văn hiến học”. Quan điểm này khác với cách lí giải về văn hiến học của Lương Khải Siêu. Có người cho rằng cuốn sách này thực chất là một bộ sách về lịch sử truyền bá của văn hiến Trung Quốc, chưa bao trùm hết cái gọi là văn hiến Trung Quốc . Ngoài ra, cấu trúc hệ thống lại thiếu tính logic, thể hiện sự phiến diện và mù mờ trong nghiên cứu lí luận thời kì đầu khi văn hiến học cổ điển thoát li khỏi danh xưng “hiệu thù học” 校雠学, vậy nên cuốn sách này sau khi ra đời đã không thể thu hút được sự chú ý cần có từ học giới. Bẵng đi hơn 50 năm kể từ thời điểm đó, chúng ta không xuất bản được cuốn sách nào về lí luận văn hiến học.

Từ thập niên 1980 trở đi, cùng với sự thay đổi về tình hình chính trị, với sự phát triển phồn vinh về kinh tế, không khí văn hóa học thuật cũng dần dần sôi động lên, cộng thêm sự thật là xã hội đã nhận thức được và luôn đề cao nhu cầu về văn hiến, việc nghiên cứu lí luận văn hiến học đã đi vào một thời kì hưng vượng, xuất hiện hàng loạt thành quả nghiên cứu văn hiến học. Bài viết này căn cứ theo nhận thức của các học giả về các vấn đề lí luận cơ sở như cấu trúc hệ thống khoa học, nội dung nghiên cứu, và phạm vi nghiên cứu của văn hiến học để phân chia việc nghiên cứu lí luận văn hiến học Trung Quốc trong thế kỉ 20 thành bốn bộ phận lớn là: văn hiến học cổ điển, văn hiến học phân ngành, văn hiến học hiện đại, văn hiến học tổng hợp, đồng thời lần lượt lựa chọn phân tích sơ bộ một số công trình nghiên cứu chủ yếu của các học giả tiêu biểu để cung cấp một cái nhìn tương đối toàn diện.

1. Văn hiến học cổ điển

1.1. Nguyên lưu

Văn hiến Trung Quốc có lịch sử lâu đời, kể từ khi xuất hiện văn hiến trở đi thì hoạt động chỉnh lí văn hiến cổ điển chưa từng bị gián đoạn. Trên cơ sở thực tế chỉnh lí văn hiến tại rất nhiều quan phủ và tư gia các đời, một số học giả, chuyên gia đã tiến hành quy nạp, tổng kết về kinh nghiệm và phương pháp có liên quan đến văn hiến học. Đời Hán, Lưu Hướng 刘向 và Lưu Hâm 刘歆 đề xướng danh xưng “hiệu thù” 校雠. Đến đời Tống, Trịnh Tiều 郑樵 viết Hiệu thù lược 校雠略 trong bộ Thông chí 通志 đã tổng kết khá toàn diện về lí luận và phương pháp hiệu thù của người trước, mở rộng thêm rất nhiều phạm vi của hiệu thù: “Tất cả những gì được lưu giữ trong quan dân, sưu tập tranh sách, biện biệt chân ngụy, hiệu đính sai lầm, xác định môn loại, xem xét việc biên soạn, tìm cách lưu truyền… đều nằm trong phạm vi [của hiệu thù học]” . Đến đời Thanh, Chương Học Thành 章学诚 nhấn mạnh rằng cần phải “phân chia rõ các ngành khoa học, khảo cứu tỉ mỉ về nguyên lưu”, cuốn Hiệu thù thông nghĩa校雠通义 của ông đã phá bỏ những tổng kết bấy nay vốn chỉ hạn chế ở mặt phương pháp, ông kết hợp hiệu thù học với lịch sử học thuật, nâng ngành này lên một tầm cao học thuật mới. Tuy học giả các đời có quan niệm khác nhau về hiệu thù, nhưng ba mặt là mục lục目录, văn bản版本 (bản bản), hiệu khám校勘 luôn là nội dung hạt nhân, chính từ quá trình tác động qua lại liên tục giữa các hoạt động thực tiễn và tổng kết lí luận như vậy, hiệu thù học đã xuất hiện và dần phát triển đến chín muồi.

“Nước ta thời xưa không có cái [thuật ngữ] gọi là văn hiến học. Nhưng có những học giả theo đuổi việc nghiên cứu, chỉnh lí văn hiến lịch sử, trước đây gọi là hiệu thù học gia. Vì vậy, hiệu thù học chính là một tên gọi khác của văn hiến học” . “Bất kì ngành khoa học nào cũng tích lũy và phát triển trong khi không ngừng phân hóa và tổng hợp; đến đầu thế kỉ 20, cùng với sự va chạm và dung hội giữa văn hóa Trung-Tây, sự truyền nhập của quan niệm khoa học và sự thay đổi của tình hình văn hiến đã thúc đẩy một số học giả đề xuất rộng khắp một khái niệm mới là “văn hiến học”, họ trực tiếp kế thừa lí luận và phương pháp của hiệu thù học, lại mở rộng nội dung của hiệu thù học, từ đó hình thành ngành văn hiến học cổ điển”. Văn hiến học cổ điển vẫn lấy việc nghiên cứu và chỉnh lí văn hiến cổ điển là nội dung chủ yếu; việc nghiên cứu nhằm vào nguyên lưu, sự tích tụ, tản mát, và thể thức điển tịch của văn hiến; chỉnh lí bao gồm biện ngụy, văn bản học, tập dật [thu thập những tài liệu tản mát], phân loại, mục lục, chú thích. Đồng thời, các học giả cũng dần chú trọng tới các nội dung như: các nhà văn hiến học trong lịch sử và những thành tựu của họ, lịch sử văn hiến học, lí luận cơ sở của văn hiến học…

1.2. Nhà văn hiến học cổ điển nổi tiếng: Trương Thuấn Huy张舜徽

Trương Thuấn Huy là nhà văn hiến học cổ điển nổi tiếng, học thức uyên bác, quán thông kim cổ. Ông thông thạo các lĩnh vực văn tự học, sử học, triết học cổ điển; đồng thời trong thời gian đọc sách và nghiên cứu lâu dài của mình, ông cũng thường xuyên tiến hành chỉnh lí văn hiến cổ điển, điều này đặt cơ sở thực tiễn và lí luận vững chắc cho tư tưởng văn hiến học của ông. Vì vậy, thông qua nhân vật điển hình này, chúng ta có thể nhìn ra toàn cảnh nghiên cứu và phát triển lí luận văn hiến học cổ điển Trung Quốc trong thế kỉ 20.

Ngay từ năm 1945, Trương Thuấn Huy đã xuất bản cuốn Quảng hiệu thù lược广校雠略 (Trung Hoa thư cục, 1963). Trong phần Tự tự自序, ông đã phân tích con đường biên soạn của mình: “Đầu tiên là làm rõ tên gọi hiệu thù, rồi phân biệt các thể loại trước thuật, rồi sơ bộ phân tích các vấn đề lớn nhỏ nông sâu của Nho học trong 2000 năm nay”. Rồi đến “ranh giới phân hợp các bộ loại, nguồn gốc tồn vong của thư tịch, cho đến phương pháp sửa chữa sai lầm, lan tới cả việc sưu tập di thư, thẩm định ngụy thư, tuy là phụ dung nhưng càng cần trở thành nguyên tắc, tùy theo luận thuật mà sử dụng, các nguyên tắc ấy bao gồm lẫn nhau, ở đây phỏng theo Hiệu thù lược trong Thông chí của họ Trịnh [Tiều]”. Có thể thấy, cuốn sách này chủ yếu kế thừa quan điểm chủ đạo “làm sáng tỏ từng loại và từng ví dụ của các thư tịch” (明群籍类例) của Trịnh Tiều và “phân biệt nguyên lưu của học thuật” (辨学术源流) của Chương Học Thành, từ đó tiến hành mở rộng thêm nội dung nghiên cứu của hiệu thù học, xây dựng nên cấu trúc hệ thống tương đối hoàn chỉnh và rõ ràng.

Sau đó, trên cơ sở rất nhiều trước tác văn hiến học của mình như: Trung Quốc cổ đại sử tịch cử yếu 中国古代史籍举要 (Khái lược thư tịch lịch sử cổ đại Trung Quốc), Thanh nhân văn tập biệt lục 清人文集别录 (Ghi chép riêng biệt các văn tập của người đời Thanh), Thanh nhân bút kí điều biện 清人笔记条辨 (Biện giải theo từng điều về bút kí của người đời Thanh); tới năm 1982, Trương tiên sinh lại xuất bản một cuốn sách có ảnh hưởng rất lớn: Trung Quốc văn hiến học (Trung Châu thư họa xã, 1982). Cuốn sách này chia thành 16 phần, 60 chương, phần 1 là phần Tự luận 绪论đã trình bày về phạm vi và nhiệm vụ của văn hiến học, tài liệu và sự thất tán của văn hiến cổ đại. Các phần sau lần lượt trình bày về các trước tác văn hiến cổ đại, thể lệ biên soạn, sao chép, việc mô phỏng lối viết, ngụy tác, tập hợp theo loại…; tổng kết về phương pháp và từng bước cụ thể mà người xưa đã dùng để chỉnh lí văn hiến, về thành tựu chỉnh lí văn hiến của các nhà hiệu thù học các đời; cuối cùng ông đưa ra quan điểm của mình về những mục đích chủ yếu và nhiệm vụ quan trọng của việc chỉnh lí văn hiến từ nay về sau. Tác giả cho rằng, hiệu thù học ngày xưa tương ứng với văn hiến học ngày nay. Chúng ta phải “kế thừa phương pháp và kinh nghiệm của các nhà hiệu thù học trước đây, để tiến hành công việc chỉnh lí, biên soạn, chú thích đối với những đồ thư và tư liệu (bao gồm giáp cốt 甲骨, kim thạch 金石, trúc giản 竹简, bạch thư 帛书) vốn được bảo tồn và đã được phát hiện; khiến cho tư liệu tạp loạn trở nên trật tự và hệ thống; khiến cho câu chữ xưa cũ bí hiểm trở nên thông tỏ và rõ ràng. Đồng thời ông tiến thêm một bước để bỏ thô lấy tinh, bỏ ngụy giữa chân, làm rõ về nguyên lưu, bàn sâu về điều được mất, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu, tiết kiệm thời gian, có cống hiến hữu ích về mặt lịch sử nghiên cứu và chỉnh lí, đây là yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản của văn hiến học” . Ông thậm chí còn đề xuất, điểm chú trọng và mục đích cao nhất của văn hiến học nằm ở “sáng lập thể lệ mới, vận dụng quan điểm mới, nhằm biên soạn một bộ thông sử Trung Hoa tương đối toàn diện, hoàn chỉnh, có tính tổng kết, có hệ thống, chọn lọc” .

Rõ ràng là so với “quảng hiệu thù” thì “văn hiến học” có nội hàm và ngoại diên sâu rộng hơn, văn hiến học là kết quả tất yếu để thích ứng với nhu cầu thời đại và sự phát triển học thuật. Nhưng từ những tài liệu trên có thể nhận thấy, quan điểm của tác giả và quan điểm của Lương Khải Siêu về cơ bản là nhất trí, chủ yếu xuất phát từ góc độ sử học để khảo sát văn hiến học, tạo thành hệ thống nội dung cho văn hiến học, ông cho rằng văn hiến học Trung Quốc chính là sự kéo dài và phát dương của hiệu thù học cổ đại, là tri thức và kĩ năng phụ trợ mà người nghiên cứu văn sử phải trang bị, chứ không phải là một ngành khoa học độc lập.

1.3. Các nhà văn hiến học cổ điển khác

Cùng thời gian với cuốn Trung Quốc văn hiến học của Trương Thuấn Huy, Ngô Phong 吴枫 cũng xuất bản cuốn Trung Quốc cổ điển văn hiến học 中国古典文献学 (Tề Lỗ thư xã, 1982), đây cũng là một cuốn sách có giá trị trong nghiên cứu văn hiến học cổ điển. Cuốn sách chia thành 8 chương, giảng giải một cách có hệ thống về sự tích tụ và thất tán, nguyên lưu và phân loại, loại biệt và thể thức của văn hiến cổ điển; cấu tạo và diễn biến của sách “Tứ bộ” 四部 [kinh , sử , tử , tập ], loại thư, tùng thư và sách tập dật, mục lục và giải đề văn hiến, văn bản, hiệu khám và biện ngụy, việc lưu trữ và đọc văn hiến cổ điển; nội dung đề cập rất rộng. Đặc biệt là cuốn sách này lần đầu tiên chú trọng trình bày về văn hiến dân tộc [thiểu số], điều đó trở thành điểm đặc sắc đột xuất. Nhưng bộ phận chính của cuốn sách này vẫn xoay quanh mục lục, văn bản, và hiệu thù, không hẹn mà gặp cuốn Trung Quốc văn hiến học của Trương Thuấn Huy ở những tìm hiểu về phương diện lí luận, chỉ khác nhau ở chỗ chia nhỏ các chủ đề tới từng hình thức biểu hiện của văn hiến.

Cuốn Văn hiến học giảng nghĩa 文献学讲义 (Bài giảng Văn hiến học, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1986) là bài giảng môn “Văn hiến học” của Vương Hân Phu 王欣夫 tại khoa Trung Văn, Đại học Phúc Đán trong các năm 1957-1960. Toàn sách có bốn chương: Dẫn nhập, Mục lục [học], Văn bản [học], và Hiệu thù [học], tiến hành luận bàn khá toàn diện về nguyên lưu, diễn biến, học giả, và trước tác tiêu biểu của ba bình diện gồm mục lục, văn bản, và hiệu thù. Cuốn Cổ điển văn hiến học 古典文献学 (Trùng Khánh xuất bản xã, 1989) của La Mạnh Trinh 罗孟dựa theo cấu trúc các thiên chương của Vương Hân Phu, điểm khác biệt là La Mạnh Trinh trình bày đồng thời về hiệu khám học, mục lục học, và văn bản học, điều này khá phù hợp với nhận thức chung của mọi người. Hai cuốn sách trên tuy đều đề cập đến một số vấn đề văn hiến học, nhưng xét về tổng thể thì vẫn thuộc về hiệu thù học.

Từ những năm 1990 trở đi, chúng ta lại đón nhận hai trước tác văn hiến học ra đời: cuốn Trung Quốc văn hiến học tổng thuyết 中国文献学综说 (Quý Châu nhân dân xuất bản xã, 1997) của Vương Yến Ngọc 王燕玉, và cuốn Trung Quốc văn hiến học tân biên 中国文献学新编 (Hàng Châu đại học xuất bản xã, 1994) của Hồng Trạm Hầu 洪湛侯. Cấu trúc nội dung của hai chuyên luận này không khác biệt nhiều so với mấy cuốn kể trên, song các tác giả này bắt đầu đi vào thảo luận chuyên sâu về một số vấn đề lí luận của ngành văn hiến học. Cuốn Tổng thuyết cho rằng văn hiến học cần phải có phạm vi là giải quyết chính việc chỉnh lí văn hiến, trong đó thư tịch là đối tượng chủ yếu; tác dụng chủ yếu của văn hiến học là cung cấp tài liệu khả tín và có hệ thống cho các ngành văn học, sử học, triết học. Năm 1987, Hồng Trạm Hầu viết bài nghiên cứu chỉ rõ, văn hiến không chỉ bao gồm phương pháp chỉnh lí văn hiến như người ta thường nghĩ, mà còn phải bao gồm lịch sử và lí luận văn hiến học, cũng như đặc điểm tự thân của văn hiến, tức là phải xây dựng hệ thống khoa học độc lập cho văn hiến học từ các khía cạnh hệ thống, phương pháp, lịch sử, lí luận . Cuốn Tân biên chính là được triển khai theo cách nghĩ này, tác giả đặt riêng một “Phần lí luận” 理论编, hầu mong tìm hiểu các vấn đề như quá trình hình thành và đặc điểm của lí luận văn hiến học, nhưng do khuôn khổ cuốn sách rất có giới hạn nên vấn đề này chưa được trình bày tường tận.

Điều đáng quan tâm là, năm 1998 Tề Lỗ thư xã cuối cùng cũng in xong cuốn Hiệu thù quảng nghĩa 校雠广义 do hai tác giả Trình Thiên Phàm 程千帆 và Từ Hữu Phú 徐有富 cùng viết, cuốn sách này gồm bốn phần là văn bản, hiệu khám, mục lục, điển tàng典藏. Cuốn sách vốn bắt nguồn từ bản thảo đầu tiên trong những năm 1940 của Trình Thiên Phàm, qua nhiều lần sửa chữa, đến khi ấy mới được đưa in, “có lẽ đây là lần đầu tiên hiệu thù học, với bốn bộ phận là văn bản, hiệu khám, mục lục, và điển tàng, được trình bày một cách toàn diện” . Các tác giả cho rằng hiệu thù học và lịch sử hiệu thù học thuộc về hai phạm trù khác nhau, vậy nên “đặt trọng tâm vào phương diện trình bày các ứng dụng thực tế của ngành khoa học này, mà giảm bớt những nội dung về sự phát triển lịch sử của hiệu thù học” .

2. Văn hiến học hiện đại

2.1. Văn hiến học hiện đại: nghiên cứu từ lĩnh vực khoa học thông tin thư viện

Cùng với sự suy tàn của các tàng thư lâu thời phong kiến, các thư viện bắt đầu xuất hiện theo nhu cầu vào thời cận đại ở Trung Quốc. Các thư viện chủ yếu áp dụng kĩ thuật và phương pháp tổ chức và chỉnh lí văn hiến của phương Tây, tiếp thu chế độ quản lí tiên tiến của họ, lưu trữ một lượng lớn văn hiến thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội của phương Tây, phù hợp với nhu cầu xã hội, vì vậy [các thư viện này] được phổ biến và phát triển khá nhanh chóng. Trải qua mấy chục năm từng bước phát triển, đặc biệt là từ những năm 1980 trở đi, công tác thông tin thư viện của Trung Quốc đã gặt hái được những thành tựu to lớn. Văn hiến là đối tượng chủ yếu trong công tác thông tin thư viện, công tác văn hiến là cơ sở thực tiễn chung cho bộ môn thông tin thư viện. Vậy nên các học giả trong lĩnh vực thông tin thư viện học bắt đầu vận dụng lí luận và phương pháp thông tin thư viện học có liên quan để nghiên cứu văn hiến hiện đại cũng như công tác văn hiến [nói chung]. Năm 1964, Viên Hàn Thanh 袁翰青công bố mấy bài viết như Hiện đại văn hiến công tác cơ bản khái niệm 现代文献工作基本概念 (Những khái niệm cơ bản trong công tác văn hiến hiện đại) trên chuyên mục “Văn hiến học” của tạp chí “Đồ thư quán” (“Thư viện”, do Bắc Kinh đồ thư quán biên tập xuất bản), lần lượt trình bày về các vấn đề như: các cấp bậc văn hiến, nguồn gốc và định nghĩa về các khái niệm văn hiến và công tác văn hiến, mối quan hệ giữa công tác văn hiến và công tác thư viện, các luận điểm và luận cứ này trở thành tư liệu kinh điển thường xuyên được dẫn dụng khi các học giả sau này thảo luận về “văn hiến học”, việc nghiên cứu văn hiến học hiện đại bắt đầu từ đó.

Từ những năm 1980 trở đi, cuộc thảo luận về văn hiến học hiện đại dần trở nên sôi nổi. Đơn Liễu Khê 单柳溪 lấy thư tịch văn hiến và tư liệu văn hiến trợ giúp tra cứu làm đối tượng để tiến hành nghiên cứu thực thể đối với văn hiến học . Tạ Nguyên Thái 谢元泰 thì lấy văn hiến và công tác văn hiến làm đối tượng nghiên cứu của văn hiến học, xây dựng thành văn hiến học thư viện và hệ thống khoa học văn hiến . Hàn Hữu Đễ 韩有悌 xuất phát từ công tác văn hiến, kiên trì coi việc hồ sơ hóa công tác văn hiến là khởi điểm để văn hiến học tự thành hệ thống . Tang Du 桑榆 định nghĩa văn hiến như sau: văn hiến học hiện đại là ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu là văn hiến hiện đại và công tác văn hiến hiện đại, nghiên cứu phương thức tổ chức, quy luật phát triển của công tác văn hiến hiện đại, nghiên cứu phương pháp thu thập, chỉnh lí, kiểm tra, và sử dụng văn hiến hiện đại . Quan điểm này khá tiêu biểu trong lĩnh vực thông tin thư viện, các học giả như Lâm Thân Thanh 林申清 , Kim Ân Huy 金恩辉 cũng có quan điểm tương tự trong nhận thức cơ bản về văn hiến học.

Năm 1990, Nghê Ba倪波 chủ biên cuốn Văn hiến học khái luận文献学概论 (Giang Tô giáo dục xuất bản xã, 1990). Cuốn sách này “thông qua thảo luận về văn hiến và công tác văn hiến để nỗ lực mô tả một hệ thống khoa học văn hiến học mới, không hạn chế trong các nội dung hạt nhân là mục lục, văn bản, và hiệu thù”. Các tác giả lấy cơ sở lí luận của ngành thông tin thư viện học, trình bày khá toàn diện về các nội dung của văn hiến như: định nghĩa, chức năng xã hội, cấu trúc, thông tin văn hiến, công cụ định hình, phả hệ, loại hình, xuất hiện, giao lưu, tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa công tác văn hiến. Đây là tác phẩm tiêu biểu mang tính cột mốc trong lĩnh vực văn hiến học.

Sau đó, cuốn Hiện đại văn hiến luận cương yếu 现代文献论纲要 (Khái quát về văn hiến học hiện đại, Thư mục văn hiến xuất bản xã, 1994) của Trương Hân Nghị 张欣毅 được xuất bản. Tác giả chia cuốn sách thành 8 chuyên đề: Tổng luận về văn hiến, Bàn về thông tin văn hiến, Bàn về chủ đề văn hiến, Bàn về hình thức của văn hiến, Bàn về cấu trúc của văn hiến, Bàn về sự lưu truyền của văn hiến, Bàn về quá trình của văn hiến, Bàn về kinh tế của văn hiến, vận dụng “quan điểm và phương pháp khoa học hiện đại” để khảo sát và nghiên cứu về phạm trù bản thể của các loại hình văn hiến xưa nay ở Trung Quốc và nước ngoài. Đối lập với Trương Hân Nghị, Trình Lỗi 程磊 đề xuất cần xây dựng loại hình học văn hiến với đối tượng nghiên cứu là các loại văn hiến ghi chép tri thức .

2.2. Văn hiến học hiện đại: nghiên cứu giao thoa nhiều góc độ đặt trong hệ thống ngành rộng lớn

Nếu chỉ thảo luận về văn hiến học trong lĩnh vực khoa học thông tin thư viện thì khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. Vì vậy, không ít học giả đã thử vượt qua mô hình tư duy thông thường, áp dụng nhiều lí luận và phương pháp như thông tin học 信息学, truyền bá học 传播学, xã hội học, để nghiên cứu văn hiến hiện đại từ góc nhìn hệ thống ngành rộng lớn. Những tìm hiểu hữu ích như vậy đã mở rộng thêm rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu văn hiến học, mang lại sức sống mới cho nghiên cứu văn hiến học hiện đại, đánh dấu thời điểm nghiên cứu văn hiến học hiện đại tiến vào một giai đoạn phát triển mới.

Văn hiến là công cụ lưu giữ và truyền bá thông tin quan trọng, vì vậy, rất nhiều học giả đã liên tục triển khai thảo luận xoay quanh vấn đề thông tin văn hiến. Huống Năng Phú况能富 viết bài kêu gọi tìm hiểu lí luận thông tin văn hiến . Nhóm Ngô Úy Từ吴慰慈 đề xuất rằng lí luận thông tin văn hiến có nền tảng lí luận chung từ thư viện học, mục lục học, và thông tin học . Năm 1986, Vạn Lương Xuân万良春 viết bài đề xướng xây dựng  khái niệm “thông tin văn hiến” 文献信息 và “thông tin học văn hiến” 文献信息学 . Tiếp đó, các học giả Trương Hân Nghị , Lê Vinh Thịnh 黎荣盛 , Hoàng Tông Trung 黄宗忠 , Trần Chưng Nguyên 陈蒸源 đã tiến hành thảo luận thêm về các vấn đề có liên quan đến “thông tin học văn hiến”. Những năm 1990, các cuốn Văn hiến tín tức học文献信息学 (Thông tin học văn hiến, Khoa kĩ văn hiến xuất bản xã, 1992) của Hoàng Tông Trung và Văn hiến tín tức học dẫn luận文献信息学引论 (Dẫn luận thông tin học văn hiến, Thư mục văn hiến xuất bản xã, 1992) của Chu Kiến Lượng 朱建亮, trên cơ sở tổng kết các thành quả nghiên cứu hữu quan, đã trình bày một cách tương đối có hệ thống về các phương diện như lí luận cơ sở cho thông tin học văn hiến và các công tác thông tin học văn hiến.

Giáo sư Chu Văn Tuấn周文骏 năm 1983 đã công bố bài viết Khái luận đồ thư quán học概论图书馆学 (Khái luận về thư viện học), trong đó lần đầu tiên đề xuất rằng cơ sở lí luận của thư viện học là giao lưu thông tin . Trong Văn hiến giao lưu dẫn luận (Dẫn luận về giao lưu văn hiến, Thư mục văn hiến xuất bản xã, 1986), một chuyên luận có ảnh hưởng tương đối lớn xuất bản sau đó, ông chỉ ra rằng, “giao lưu học văn hiến” 文献交流学là một ngành khoa học nghiên cứu quá trình giao lưu văn hiến, nghiên cứu văn hiến với tư cách là chủ thể của quá trình giao lưu, nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến giao lưu văn hiến như sự xuất hiện, phát triển, chức năng, nội dung, đường hướng, phương pháp, hiệu quả, tổ chức… Theo đó, Mật Hạo 宓浩 cho rằng cần phải coi giao lưu văn hiến là giao lưu tri thức . Nghê Ba chỉ rõ hơn: giao lưu thông tin văn hiến là một hệ thống lớn, bao gồm thư viện, thông tin, lưu trữ, xuất bản phát hành .

Cuốn Văn hiến truyền bá học 文献传播学 (Thư mục văn hiến xuất bản xã, 1997) của Chu Khánh Sơn 周庆山 có thiên hướng nghiên cứu nhân văn về việc truyền bá văn hiến, cuốn sách đã ứng dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của truyền bá học, xã hội học, thư viện học để tiến hành nghiên cứu những nội dung liên quan đến các phương diện của truyền bá văn hiến như: sự xuất hiện, phát triển, chức năng cơ bản, nguyên lí, loại hình, mô thức cấu trúc, chính sách, công nghiệp hóa, truyền bá quốc tế. Cuốn sách này vốn được chỉnh sửa trên cơ sở luận án tiến sĩ Văn hiến truyền bá đích nhân văn nghiên cứu 文献传播的人文研究 (Nghiên cứu nhân văn về truyền bá văn hiến) của tác giả, góc độ và phương pháp nghiên cứu khá gần với người hướng dẫn là Chu Văn Tuấn.

Về mối quan hệ giữa “thông tin học văn hiến” và “giao lưu học văn hiến”, Chu Văn Tuấn và Dương Hiểu Tuấn 杨晓骏 công bố bài Văn hiến học tân luận 文献学新论 (Quan điểm mới về văn hiến học), trong đó chỉ ra, hai ngành trên là hai ngành trụ cột trong số các ngành thuộc khoa học văn hiến. Thông tin học văn hiến thiên về nghiên cứu các quy luật nội tại của văn hiến, giao lưu học văn hiến thiên về nghiên cứu các quy luật ngoại tại của văn hiến, hai bên nương tựa vào nhau mà tồn tại, cùng tạo thành lí luận cơ sở quan trọng cho văn hiến học .

Trong lĩnh vực thảo luận về mối quan hệ giữa văn hiến với xã hội, cuốn Văn hiến xã hội học文献社会学 (Xã hội học văn hiến, Vũ Hán Đại học xuất bản xã, 1994) của Khanh Gia Khang卿家康 có thể coi là ngọn cờ đầu. Tác giả cuốn sách cho rằng, với tư cách là một thể thống nhất giữa vật chất với tinh thần, văn hiến về bản chất là con đường giao lưu xã hội, rồi coi [luận điểm] đó là hạt nhân để thảo luận rộng khắp về các vấn đề lí luận như: thực chất, giá trị, chức năng, nguồn gốc và phát triển trong xã hội, sự xuất hiện, truyền bá, sử dụng, tổ chức, hiệu quả, hạn chế của văn hiến trên bình diện xã hội.

Ngoài ra, trong bài Văn hiến chi xã hội vật lí học tư khảo 献之社会物理学思考 (Nhìn nhận văn hiến từ học độ vật lí học xã hội), Tưởng Vĩnh Phúc 蒋永福 chủ trương rằng phải kết hợp vật lí học với văn hiến học để xây dựng “vật lí học văn hiến” 文献物理学 . Diệp Ưng 叶鹰 công bố bài Triết học văn hiến dữ văn hiến triết học luận cương 哲学文献与文献哲学论纲 (Bước đầu bàn về văn hiến triết học và triết học văn hiến), lần đầu tiên mạnh dạn đề xuất [khái niệm] “triết học văn hiến” 文献哲学 .

3. Văn hiến học phân ngành và nghiên cứu chuyên đề

Từ những năm 1980 trở đi, văn hiến học phân ngành và nghiên cứu chuyên đề là những biểu hiện quan trọng của sự phát triển theo hướng chuyên sâu trong nghiên cứu lí luận văn hiến học. Người ta đã vận dụng lí luận và phương pháp chung của văn hiến học để nghiên cứu văn hiến chuyên biệt của một ngành khoa học nào đó, nhằm cung cấp cơ sở tư liệu nghiên cứu cho ngành khoa học đó. Hiện nay, các phương diện văn học, sử học, lưu trữ học đều đã có các chuyên luận văn hiến học của mình.

Về phương diện văn hiến học lịch sử, Bạch Thọ Di 白寿彝 từ khá sớm đã khơi dậy việc thảo luận về các vấn đề cơ bản hữu quan. Trên cơ sở đó, từ cuối những năm 1980, tại Trung Quốc có ba chuyên luận cùng tên Trung Quốc lịch sử văn hiến học 中国历史文献学 (Văn hiến học lịch sử Trung Quốc) ra đời, lần lượt là Trung Quốc lịch sử văn hiến học của Vương Dư Quang王余光 (Vũ Hán Đại học xuất bản xã, 1988), Trung Quốc lịch sử văn hiến học do Trương Gia Phan张家璠và Hoàng Bảo Quyền 黄宝权 chủ biên (Quảng Tây Sư đại xuất bản xã, 1989), và Trung Quốc lịch sử văn hiến học do Dương Yến Khởi杨燕起 và Cao Quốc Kháng高国抗 chủ biên (Thư mục văn hiến xuất bản xã, 1989).

Chúng ta biết rằng, văn hiến học lịch sử Trung Quốc mới được đề xuất chưa lâu, đó là một phân ngành của văn hiến học Trung Quốc, với tác dụng của yếu là cung cấp tư liệu nghiên cứu cho khoa học nhân văn, đặc biệt là nghiên cứu sử học. Vì vậy, với tư cách là một ngành khoa học có hệ thống lí luận, văn hiến học lịch sử còn cần thêm thời gian để xây dựng và hoàn thiện. Trên cơ sở nhận thức này, Bạch Thọ Di đã khái quát các nội dung nghiên cứu văn hiến học lịch sử thành bốn bộ phận là lí luận, lịch sử, phân loại, và ứng dụng . Vương Dư Quang lại cho rằng bao gồm ba bộ phận là bản thân văn hiến lịch sử, phương pháp và nội dung của việc chỉnh lí văn hiến, và lịch sử chỉnh lí văn hiến. Trương Gia Phan và Hoàng Bảo Quyền thì cho rằng bao gồm bốn bộ phận là diễn biến, việc chỉnh lí, quá trình lưu truyền của văn hiến lịch sử, và lịch sử của văn hiến học lịch sử. Dương Yến Khởi và Cao Quốc Kháng cho rằng hệ thống văn hiến học lịch sử bao gồm ba bộ phận là lí luận, đầu mối phát triển, phân nhánh và các ngành tương quan. Ngô Phong cho rằng bao gồm ba bộ phận là văn hiến lịch sử, diễn biến của văn hiến lịch sử, và phương pháp chỉnh lí văn hiến lịch sử . Rõ ràng là không có sự tương đồng hoàn toàn về phạm vi nội dung nghiên cứu của văn hiến học giữa các tác giả trên, nhưng họ đều chưa thể vượt qua cái khuôn khổ nghiên cứu của văn hiến học cổ điển.

Văn hiến học lịch sử là một phân ngành của văn hiến học, nhưng tự thân nó là một hệ thống tương đối độc lập. Trong hệ thống này, một số nhánh nhỏ cũng trở nên độc lập, theo đó, sự ra đời của một loạt chuyên luận về chính sử học正史学, thông giám học通鉴学, văn hiến học lưu trữ 档案文献学… đã làm phong phú và chuyên sâu một cách tối đa cho việc nghiên cứu văn hiến học lịch sử. Ví dụ, cuốn Đáng án văn hiến học 档案文献学 (Văn hiến học lưu trữ) của nhóm Hoàng Tồn Huân 黄存勋 và Lưu Văn Kiệt 刘文杰 đã trình bày một cách tương đối có hệ thống về các vấn đề lí luận và phương pháp của văn hiến lưu trữ như: tính chất, giá trị và đặc điểm, tra đọc, khảo cứ, hiệu khám, biên tập; đồng thời diễn giải về văn hiến lưu trữ lịch sử của Trung Quốc, chủ yếu là nguyên lưu, phân loại, nội dung, và giá trị của văn hiến lưu trữ hiện tồn.

Về phương diện văn hiến học văn học, cuốn Trung Quốc văn học văn hiến học 中国文学文献学 (Văn hiến học văn học Trung Quốc, Giang Tây Nhân dân xuất bản xã, 1986) của Trương Quân Viêm 张君炎 đã thảo luận một cách có hệ thống về nội dung, phạm vi, và nhiệm vụ của văn hiến học văn học. Tác giả cho rằng văn hiến học văn học Trung Quốc là một chuyên ngành của văn hiến học, có đối tượng nghiên cứu là văn hiến văn học cổ đại Trung Quốc, có cơ sở là các nguyên lí của mục lục học, đồng thời vận dụng các tri thức về văn bản, ấn chương, hiệu khám, biện ngụy, chú thích, biên toản, vận dụng lí luận và phương pháp tra cứu để nghiên cứu các quy luật và phương pháp trong công tác tổ chức và tra cứu văn hiến văn học Trung Quốc. Giáo sư Chu Ngạn Văn 周彦文 ở khoa Trung văn, Trường Đại học Đạm Giang 淡江 đã chủ biên cuốn Trung Quốc văn hiến học 中国文献学 (Ngũ Nam đồ thư xuất bản hữu hạn công ti, 1993), đây là cuốn sách đầu tiên của Đài Loan có nhan đề là “văn hiến học”. Tác giả cho rằng chủ thể nghiên cứu của văn hiến học là bản thân văn hiến, rồi xuất phát từ quan điểm này để xác lập địa vị khoa học độc lập của văn hiến học. Nhưng do chuyên môn của tác giả, cuốn sách đã đặt trọng tâm vào trình bày tình hình xuất hiện, phát triển, và chỉnh lí văn hiến văn học Trung Quốc từ thời Dân Quốc trở về trước, vì vậy về thực chất chỉ có thể coi là một bộ lịch sử văn hiến học văn học giản minh.

Ngoài ra, chúng ta còn xuất bản được một số chuyên luận văn hiến học phân ngành khác như Khoa kĩ văn hiến học科技文献学 (Văn hiến học khoa học kĩ thuật) của Vương Tú Thành王秀成, Xã hội khoa học văn hiến học社会科学文献学 (Văn hiến học khoa học xã hội) của Quách Tinh Thọ 郭星寿; những chuyên luận này về đại thể là phân bố nội dung thành ba bộ phận là khái luận tri thức ngành, nguồn gốc văn hiến ngành, và các kĩ thuật tra cứu hữu quan.

Về phương diện nghiên cứu chuyên đề, năm 1993, Vũ Hán Đại học xuất bản xã đã xuất bản cuốn Trung Quốc văn hiến sử - đệ nhất quyển 中国文献史-第一卷 (Lịch sử văn hiến Trung Quốc, quyển một) của Vương Dư Quang, đây là bộ sách đầu tiên đề xuất việc dùng hình thức nhiều tập để tổng kết toàn diện về lịch sử diễn biến của văn hiến cổ điển Trung Quốc. Ngoài ra, các cuốn Trung Quốc văn hiến học sử yếu lược中国文献学史要略 (Giản lược lịch sử văn hiến học Trung Quốc, Quảng Tây nhân dân xuất bản xã, 1993) của Vương Dư Quang, Trung Quốc cổ đại văn hiến học gia nghiên cứu 中国古代文献学家研究 (Nghiên cứu về các nhà văn hiến học cổ đại Trung Quốc, Quảng Tây Sư phạm Đại học xuất bản, 1996) do Trương Gia Phan và Diêm Sùng Đông阎崇东 chủ biên, Trung Quốc văn hiến học yếu tịch giải đề 中国文献学要籍解题 (Tóm tắt về các thư tịch văn hiến học quan trọng của Trung Quốc, Hàng Châu Đại học xuất bản xã, 1997) của Hồng Trạm Hầu… đều đã thảo luận khá sâu về các vấn đề chuyên môn như lịch sử văn hiến học, các nhà văn hiến học, và các tác phẩm văn hiến học trọng yếu, những điều này hết sức có lợi cho việc phong phú hóa nội dung nghiên cứu văn hiến học, thúc đẩy việc xây dựng lí luận văn hiến học.

4. Văn hiến học tổng hợp

Tiếp theo cuốn Trung Quốc lịch sử văn hiến học [1988], Vương Dư Quang trong bài Luận văn hiến học论文献学 (Bàn về văn hiến học) công bố năm 1998 đã cho rằng, văn hiến học cần phải coi văn hiến là chủ thể nghiên cứu, nhấn mạnh cần phải coi văn hiến là thực thể văn hóa có tính đặc thù để tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống trong quá trình lịch sử và trong bối cảnh văn hóa xã hội, chứ không được nghiên cứu phiến diện rồi khoa trương thành toàn diện. Trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo này, ông đề xuất một yếu mục “Văn hiến học luận cương” , trong đó có sáu đề mục là: “Nghiên cứu văn hiến”, “Loại hình văn hiến”, “Nghiên cứu công tác văn hiến”, “Nghiên cứu sự phát triển của văn hiến”, “Nghiên cứu giá trị văn hiến”, “Nghiên cứu tổng hợp”, dưới mỗi đề mục lại phân chia thành các tiểu mục, tất cả tạo thành một khung khổ mạch lạc cho một thứ văn hiến học có hệ thống. Phân chia như trên không chỉ bao hàm các nội dung nghiên cứu của văn hiến học cổ điển, mà còn gần như bao quát tất cả các phương diện của văn hiến học hiện đại.

Với yếu mục trên, Vương Dư Quang trong bài viết Tái luận văn hiến học再论文献学 (Lại bàn về văn hiến học) năm 1997 đã có một số thay đổi nhỏ . Trong đề mục “Nghiên cứu công tác văn hiến”, ông đổi bốn tiểu mục là “Giao lưu (truyền bá) văn hiến”, “Bảo tồn và lưu trữ văn hiến”, “Quản lí văn hiến”, “Tiêu chuẩn hóa công tác văn hiến” thành ba tiểu mục là “Hiện đại hóa phương pháp khai thác văn hiến”, “Giao lưu và truyền bá văn hiến”, “Lưu trữ và sử dụng văn hiến”; trong đề mục “Nghiên cứu sự phát triển của văn hiến”, ông bỏ tiểu mục “Sự tăng trưởng và lão hóa của văn hiến”; trong đề mục “Nghiên cứu tổng hợp”, ông thêm tiểu mục “Văn hiến học so sánh”. Các thuật ngữ bảo tồn và lưu trữ văn hiến, quản lí văn hiến, tiêu chuẩn hóa công tác văn hiến, và lão hóa văn hiến đều là các thuật ngữ của các chuyên ngành thư viện học, thông tin học vốn có liên quan tới văn hiến, việc sửa chữa của tác giả rõ ràng là nhằm thoát hẳn khỏi ảnh hưởng của các ngành khoa học hữu quan này để khảo sát văn hiến học một cách độc lập hơn, tổng hợp hơn.

Đến năm 1991, cuốn Văn hiến học từ điển 文献学辞典 (Triệu Quốc Chương 赵国璋, Phan Thụ Quảng 潘树广 chủ biên, Giang Tây giáo dục xuất bản xã, 1991) đầu tiên của Trung Quốc đã ra đời. Trong phần Lời nói đầu, các chủ biên đã thảo luận ngắn gọn về các vấn đề liên quan đến văn hiến học. Họ cho rằng văn hiến học là ngành khoa học nghiên cứu sự phát sinh, phát triển, chỉnh lí, và sử dụng văn hiến, có thể chia văn hiến học thành văn hiến học cổ điển và văn hiến học hiện đại. Văn hiến học cổ điển trỏ hiệu thù học theo nghĩa rộng vốn khai mào từ cha con họ Lưu [Lưu Hướng và Lưu Hâm] thời Tây Hán, rồi được học giả các đời không ngừng phát triển mở rộng. Văn hiến học hiện đại thiên về công tác văn hiến, vận dụng lí luận và phương pháp của các ngành thư viện học và thông tin học, nhiệm vụ cơ bản là nhận thức, tổ chức, tra cứu, và sử dụng [văn hiến], [ngành văn hiến học hiện đại] còn đang trong quá trình phát triển để hoàn thiện. Văn hiến học lại kết hợp với các ngành khoa học khác, hoặc quy định phạm vi nghiên cứu nào đó, để hình thành các phân ngành như văn hiến học văn học, văn hiến học lịch sử. Ngoài ra, sau phần chính văn của cuốn từ điển trên còn liệt kê một Từ mục phân loại biểu 词目分类表 (Bảng phân loại các mục từ). Bảng này vừa phản ánh trình độ nghiên cứu đương thời về các phân ngành văn hiến học, vừa thể hiện cách nhìn của các tác giả đối với phạm vi nghiên cứu của văn hiến học. Bảng này bao gồm bảy phần là: văn hiến nói chung, công cụ truyền tải văn hiến, chỉnh lí văn hiến, sự tụ tán và lưu thông văn hiến, các văn hiến trọng yếu, đọc hiểu văn hiến, và các nhà văn hiến học; trong đó phần chỉnh lí văn hiến lại chia thành các mục nhỏ: văn bản, hiệu khám, mục lục, khảo chứng, biện ngụy, tập dật, phiên dịch.

Ngoài ra, các học giả Trần Quốc Phong, Trần Sinh Nông 陈生农, Tạ Nguyên Thái, Diệp Ưng  Tưởng Vĩnh Phúc cũng đã tiến hành thảo luận về cấu trúc hệ thống vĩ mô của văn hiến học. Dù cho quan điểm nghiên cứu căn bản của họ không thống nhất, nhưng họ đều theo thông lệ để phân chia hệ thống ngành thành hai bộ phận là vĩ mô và vi mô, hoặc bốn bộ phận là lí luân, ứng dụng, chuyên môn, và phân ngành. Sau khi phân tích nguồn gốc của hệ thống văn hiến học cũng như phương pháp nghiên cứu văn hiến học của các học phái khác nhau, Kha Bình柯平 đã vận dụng phương pháp hệ thống luận để nghiên cứu cấu trúc hệ thống của văn hiến học, rồi quy loại thành bốn mảng của văn hiến học là thông luận, phương pháp luận, loại hình học, và văn hiến học chuyên ngành, như thế là khá có sức thuyết phục . Hệ thống văn hiến học mà Chu Văn Tuấn và Dương Hiểu Tuấn đã xây dựng cũng tương tự với hệ thống của Kha Bình, điểm độc đáo của hai tác giả trên là coi thông tin học văn hiến và giao lưu học văn hiến là lí luận cơ sở của văn hiến học .

5. Một số ý kiến của chúng tôi

Căn cứ theo các phân tích trên, chúng tôi xin trình bày một số nhận thức về văn hiến học như sau.

Chúng tôi cho rằng, văn hiến học phải là một ngành khoa học độc lập có đối tượng nghiên cứu trực tiếp là văn hiến. Với tư cách là đối tượng nghiên cứu của văn hiến học, văn hiến trước hết phải là một khái niệm thực thể, bao gồm các nội dung là thuộc tính văn hiến, loại hình văn hiến, công cụ truyền tải văn hiến, và thể thức văn hiến. Sau đó, văn hiến thuộc về phạm trù văn hóa xã hội, bao gồm: một loạt quá trình vận động xã hội là sự phát sinh văn hiến, chỉnh lí văn hiến, phát hiện văn hiến, truyền bá văn hiến, lưu trữ văn hiến, và sử dụng văn hiến; giá trị văn hiến và phát huy giá trị văn hiến, các bình diện quan hệ giữa văn hiến với văn hóa và học thuật. Tiếp theo, văn hiến còn là một phạm trù lịch sử, bao gồm nguồn gốc, quá trình phát triển, và các quy luật văn hiến. Văn hiến học là một ngành khoa học nghiên cứu văn hiến một cách toàn diện và có hệ thống, nội dung nghiên cứu của nó, ngoài các nội hàm văn hiến được nhìn nhận từ các tầng thứ và góc độ khác nhau như đã trình bày trên, còn phải bao gồm lí luận cơ sở văn hiến học, như định nghĩa văn hiến học, đối tượng nghiên cứu, hệ thống ngành, lịch sử văn hiến học, tất cả tạo thành một chỉnh thể hữu cơ ở trạng thái động. Vì vậy bất kể là văn hiến học cổ điển vốn lấy việc chỉnh lí văn hiến cổ điển là nội dung hạt nhân, hay văn hiến học hiện đại vốn nhấn mạnh việc nghiên cứu sự truyền bá xã hội và sử dụng văn hiến hiện đại, đều chỉ là một trong số các bộ phận cấu thành [của văn hiến học]. Cũng có thể nói rằng, cái gọi là văn hiến học cổ điển và văn hiến học hiện đại chỉ là những tên gọi khác nhau của việc nghiên cứu văn hiến học trong những thời kì khác nhau, chứ không phải là hai ngành khoa học . Người ta phân chia văn hiến học như thế, nguyên nhân sâu xa là để theo sự tiến bộ của xã hội, sự tăng dần của loại hình và số lượng văn hiến, sự phong phú hóa và đa dạng hóa các nhu cầu về văn hiến, cũng như sự nâng cao của tác dụng và địa vị của văn hiến trong văn hóa xã hội; những nghiên cứu về văn hiến, hoạt động văn hiến, cũng như lí luận cho ngành văn hiến học không ngừng đi sâu và mở rộng, cho thấy những vấn đề trọng điểm và đặc tính khác nhau ở từng thời đại, điều này phù hợp với quy luật chung trong sự phát triển của mỗi ngành khoa học.

Nhìn một cách tổng quát về con đường diễn biến, thì việc nghiên cứu văn hiến học trong thế kỉ 20 đã trải qua quá trình phát triển từ tổng kết phương pháp và kinh nghiệm cụ thể đến nghiên cứu trừu tượng, khái quát trong chỉnh lí văn hiến; từ nghiên cứu văn hiến học phân ngành, chuyên đề văn hiến học, và các ngành liên quan, đến khảo sát tổng hợp vĩ mô, dần dần độc lập và nhanh chóng phát triển. Học giả thuộc các lĩnh vực khoa học hữu quan như lịch sử, văn học, công bố học, thông tin thư viện học đã nhiệt tình tham dự, phạm vi nghiên cứu mở rộng thêm nhiều, vậy nên đã gặt hái được những thành tựu vô cùng phong phú như ngày nay. Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ định sự thật là vẫn còn không ít tồn tại: các vấn đề cơ bản của văn hiến học (đối tượng nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, tính chất ngành) còn chưa được nhất trí; cần nhiều bổ sung cho thành quả nghiên cứu về việc xây dựng hệ thống ngành; các phương diện như quan niệm về văn hiến, lịch sử văn hiến học, cũng như phương pháp luận nghiên cứu văn hiến học còn ít được thảo luận; phương pháp và thao tác nghiên cứu còn thiếu tính đa dạng; đội ngũ nghiên cứu còn rất phân tán; vì vậy việc nghiên cứu văn hiến học vẫn cần một quá trình dài nữa để có thể tích lũy và hoàn thiện.

Nhìn lại là để nhìn tiếp. Về xu thế phát triển của việc nghiên cứu lí luận văn hiến học Trung Quốc trong tương lai, chúng tôi cho rằng cần phải ra sức học hỏi và áp dụng tất cả các tư tưởng và phương pháp nghiên cứu khả thủ từ các ngành hữu quan, phù hợp với nhu cầu thời đại, phát triển theo hướng xã hội hóa, đặt trọng tâm vào nghiên cứu ngoại vi từ các bộ phận cấu thành như văn hiến học phân ngành, các ngành hữu quan, và nghiên cứu lí luận chuyên đề, đồng thời tăng cường nghiên cứu bản thể một cách độc lập đối với văn hiến học. Trong bối cảnh xã hội hiện nay, khoa học kĩ thuật hiện đại với kĩ thuật tin học và công nghệ thông tin Internet đã thẩm thấu sâu rộng tới các lĩnh vực xã hội, điều này cũng ảnh hưởng sâu sắc tới các phương diện của văn hiến và công tác văn hiến, tạo điều kiện thuận lợi rất lớn về kĩ thuật cho nghiên cứu văn hiến học để có thể mở rộng thêm nhiều nội dung nghiên cứu mới. Văn hiến học hiện đại cần phải mở rộng tầm nhìn. Cùng với việc tận dụng các phương pháp hiện đại để nghiên cứu các bình diện của văn hiến như: miêu tả, chỉnh lí, tra cứu, kiểm kê, sử dụng… còn cần phải nhìn lại việc nghiên cứu về các phương diện như: giá trị văn hiến trong bối cảnh thông tin mới, việc truyền bá và tổn thất văn hiến, văn hiến với tiến bộ xã hội của nhân loại, văn hóa và cuộc sống hiện đại. Về phương diện văn hiến học cổ điển, chúng ta cần đặc biệt chú trọng việc chỉnh lí cổ tịch và nghiên cứu phương pháp luận để chỉnh lí cổ tịch, đặc biệt là tận dụng các phương pháp hiện đại để chỉnh lí, khai thác, và sử dụng cổ tịch. Việc nghiên cứu quá trình phát triển của văn hiến học Trung Quốc chủ yếu bao gồm lịch sử phát triển của văn hiến học và lịch sử tàng thư Trung Quốc. Trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hiến với tiến bộ xã hội, cần đặc biệt chú trọng tới ảnh hưởng của chính sách văn hóa với lịch sử đời sống nhân văn của Trung Quốc, ảnh hưởng của văn hiến đối với tiến trình văn minh. Các loại hình văn hiến cũng cần được tìm tòi nghiên cứu, chủ yếu bao gồm điển tịch tôn giáo, văn hiến địa phương, văn hiến khoa học kĩ thuật cổ đại, và văn hiến của các dân tộc thiểu số .

VƯƠNG DƯ QUANG, UÔNG ĐÀO, TRẦN ẤU HOA

TÀI LIỆU THAM KHẢO

<1> 华夫. “中国文献与子母工具书纵论”. 天津大学学报, 1987 (6): 69.

<2> 钱亚新. 《郑樵校雠略研究》. 商务印书馆, 1948: 12.

<3> <4> <5> 张舜徽. 《中国文献学》. 郑州: 中州书画社, 1982: “绪论”.

<6> 洪湛侯. “古典文献学的重要课题: 兼论建立文献学的完整体系”. 杭州大学学报, 1987 (2): 86-95.

<7> <8> 程千帆, 徐有富. 《校雠广义》. 齐鲁书社, 1998: “校雠广义叙录”.

<9> 单柳溪. “有关文献学三议”. 图书馆工作与研究,1981 (1): 30-33.

<10> 谢元泰. “论现代图书馆文献学研究范围”. 四川图书馆学报, 1983 (2): 55-59.

<11> 谢元泰. “文献, 文献工作与文献科学”. 情报业务研究, 1985 (3): 188-191.

<12> 韩有悌. “建立文献学研究体系”. 四川图书馆学报, 1985 (3): 50-53.

<13> 桑榆. “文献学中有关概念的梳理”. 徐州师专学报, 1988 (4): 155.

<14> 林申清. “现代文献学定义综述”. 大学图书馆学报, 1990 (1): 26-33, 38.

<15> 金恩辉. “关于文献学基本问题的研究”. 文献工作研究, 1994 (3): 16-22.

<16> 程磊. “一门新兴的学科: 文献类型学”. 黑龙江图书馆, 1990 (5): 51-54.

<17> 况能富. “应当探索文献信息理论”. 图书馆工作, 1984 (4): 41-44.

<18> 吴慰慈 . 《图书馆学概论》. 北京: 书目文献出版社, 1985.

<19> 万良春. “确立文献信息概念, 建立文献信息学”. 图书情报知识, 1986 (1): 7-9, 14.

<20> 张欣毅. “关于文献信息科学的思考”. 图书馆理论与实践, 1987 (2):1-9.

<21> 黎荣盛. “试论文献信息学”. 情报学刊 (1) :17-20, 23.

<22> 黄宗忠. “试论文献信息学”. 图书情报知识, 1990 (4): 2-8,13.

<23> 陈蒸源. “图书馆学和信息学”. 图书馆学研究, 1986 (4):1-7.

<24>    周文骏. “概论图书馆学”. 图书馆学研究, 1983 (3): 10-18.

<25>    宓浩. 《图书馆学原理》. 上海. 华袁师太出版社, 1988: 319.

<26> 倪波, 荀昌荣 主编. 《理论图书馆学教程》. 天津: 南开大学出版社, 1986: 36-70.

<27> <43> 周文骏, 杨晓骏. “文献学新论”. 中国图书馆学报, 1994 (1): 61-65.

<28> 蒋永福. “文献之社会物理学思考”. 情报业务研究, 1990 (3): 141.

<29> 叶鹰. “哲学文献与文献哲学论纲”. 情报业务研究, 1989 (2): 97.

<30> 白寿彝. “谈历史文献学”. 史学史研究, 1981 (2): 1-8.

<31> 白寿彝. 《历史教育和史学研究》. 河南人民出版社, 1983: 141-142.

<32> 吴枫. “历史文献学四十年之我见”. 古籍整理研究学刊, 1989 (5): 13-18.

<33> 王余光. “论文献学”. 武汉大学学报,1988 (6): 124-130.

<34> 王余光. 《中国文献史 (第一卷). 武汉: 武汉大学出版社, 1993, 65-66.

<35> <44> <45> 王余光. “再论文献学”. 图书情报知识, 1997 (1): 1-6.

<36> 陈国锋, 陈生农. “文献科学系统解说”. 图书馆学研究, 1987 (4): 12-15.

<37> 谢元泰. “科学文献与文献科学论略”. 图书与情报, 1987 (2-3): 50-56.

<38> 叶鹰. “文献结构与文献学体系探讨: 兼论图书情报专业的课程设置”. 情报业务研究, 1988 (5): 332-334.

<39> 蒋永福. “文献学若干理论问题初探”. 情报业务研究, 1990 (5): 257-259.

<40> 柯平. “关于文献学体系的来源: 文献学理论研究之一”. 河南图书馆学刊, 1995 (1): 12-14.

<41> 柯平. “关于文献学体系的研究法: 文献学理论研究之二”. 河南图书馆学刊, 1996 (3): 18-20.

<42> 柯平. “科学体系中的文献学: 文献学理论研究之三”. 河南图书馆学刊, 1997 (3): 11-13.



Bản dịch tiếng Việt đã đăng tại: Tạp chí Hán Nôm, số 1/2009, tr. 69-83

Top