Phỏng vấn Nguyễn Hùng Vĩ về Folklore hiện đại

fShare
1

Phỏng vấn Nguyễn Hùng Vĩ về Folklore hiện đại.

Phóng viên Tạp chí Văn hóa Nghệ An

  

Có thể nói văn hoá dân gian – folklore là văn hoá của loài người có được trước khi có chữ viết được không? Và sau khi có chữ viết thì loài người có tiếp tục sản sinh ra folklore? Một câu hỏi có vẻ như hơi lẩm cẩm nhưng thực ra hay bắt gặp trong cuộc sống vì mãi đến bây giờ khi mà người Việt Nam ta giành được giải fields, đã sắm được vệ tinh nhân tạo thì vẫn tiếp tục có những cái không diễn tả thành lời, bằng chữ và gắn chặt với đời sống nhân gian. Thời nay vẫn hội hè, đình đám, lễ lạt, vẫn chuyện trạng, chuyện cười, tiếu lâm, vẫn có bao nhiêu cái mà không có trong văn tự của cuộc sống. Câu chuyện, câu hỏi cũng có vẻ dân gian này nên được giải thích, được hiểu thế nào? Tạp chí Văn hóa Nghệ An có bài phỏng vấn nhà nghiên cứu Văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ.

 

1. Vậy xét cho cùng folklore là gì? Nó có ích gì cho cuộc sống của con người?

Folklore là một khái niệm mang tính quốc tế. Nó có tác giả đầu tiên đề xuất, có thời gian ra đời, trở thành một môn học thuộc khoa học xã gội và nhân văn, có những cách hiểu khác nhau, nhưng cuối cùng có những tính chất chung về cách thức tiếp cận để nó vẫn là một môn học tương đối độc lập. Khái niệm này được Wiliam John Thomp (bút danh Merton) đề xuất năm 1846 trong một bài báo có tên là FOLKLORE. Vì là người đầu tiên đề xuất khái niệm nên cụ rất cẩn trọng, ghi chú là Folklore = Folk + lore. Folk là thuộc về nhân dân, là dân gian. Lore là tri thức, sự hiểu biết, là tinh thần, thậm chí là câu chuyện… Tất nhiên, tác giả cũng đưa ra quan niệm chung của mình về Folklore: Dùng để chỉ những di tích văn hóa vật chất, nhưng chủ yếu là văn hóa tinh thần có liên quan đến văn hóa vật chất đó như phong tục, tập quán, ca dao, cách ngôn, mê tín, dị đoan… của cư dân thời xưa.

Bài báo khoa học ngay lập tức gây được tiếng vang và khái niệm này được chấp nhận, trở thành một xu hướng nghiên cứu mới ở Cựu lục địa và lan tỏa khắp thế giới. Năm 1872, Hiệp hội Folklore quốc tế hình thành. Cũng như nhiều lí thuyết, nhiều tôn giáo, nhiều môn học khác trên thế giới, khi đã lan tỏa trong không gian, trong thời gian, qua nhiều thực tế khác nhau thì nó cũng được hiểu và vận dụng rất khác nhau. Năm 1972, kỉ niệm 100 năm ngày Folklore, người ta thống kê thì thấy rất nhiều cách hiểu phong phú, thậm chí đối lập nhau, tranh luận với nhau. Nhưng chung quy lại, ta thấy có hai cách hiểu phổ biến: HẸP và RỘNG. Hiểu hẹp là coi nó như Nghệ thuật dân gian hoặc Văn học dân gian. Hiểu rộng thì trung thành với Merton: tương tự toàn bộ Văn hóa dân gian quá khứ.

Để tránh việc tan rã một môn học, người ta có quy định, không dịch khái niệm này ra bất cứ ngôn ngữ nào khác (Folklore), nếu cần, thì phiên âm với cách đọc tiếng Anh thế kỉ XIX (Phôn cơ lo).

Tuy nhiên, dù hiểu khác nhau, thì người nghiên cứu theo kiểu Folklore cũng giống nhau ở một số cung cách tiếp cận như Tính quá khứ (quan niệm một tồn tại là hệ quả của sự phát triển từ quá khứ, đọc những thông tin quá khứ trong tồn tại đó, mô tả và giải thích các tuyến tính lịch sử của tồn tại), Tính phi chính thống (tất cả những gì là chính thống thể chế hoặc chính thống tôn giáo đều không là đối tượng chủ yếu của Folklore), Tính tổng thể (tồn tại là một tổng thể của văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, tổng thể các các hình thái tinh thần, tổng thể các loại hình nghệ thuật…nên cần tiếp cận nó bằng phương pháp liên ngành).

Ở Việt Nam quan niệm Folklore được nhập vào cùng với việc thành lập Viễn Đông bác cổ đầu thế kỉ XX. Từ đó cho đến 1945, nó được hiểu theo nghĩa rộng. Sau 1954, nó được hiểu rất hẹp, gần như chỉ nói đến Folklore ngôn từ , cuối những năm 1970, hiểu rộng ra là Nghệ thuật dân gian và hiện nay hiểu tương đương với Văn hóa dân gian.

Con người là động vật biết tổ chức lao động, có ngôn ngữ, có tín ngưỡng, có tôn giáo, có tri thức vậy con người có Folklore. Nó có ích để con người ra khỏi thế giới dã thú, ra khỏi tình trạng dã man để bước vào xã hội văn minh. Nó thuộc về dân gian nên nhân dân càng ngày càng cần văn minh hơn, chống lại tình trạng dã man bao giờ cũng sẵn sàng nẩy nở. Nó luôn luôn hữu ích với nhân loại trong tiến trình lịch sử bất tận.

2. Theo như anh nói thì foklore tồn tại cùng đời sống xã hội của loài người, nhưng mỗi thời một khác. Folklore thời nay phải khác với hôm qua, hôm kia, với thời xưa. Vậy có khái niệm hiện đại hoá folklore không thưa anh?

Không phải là hiện đại hóa mà nó tồn tại một cách tất yếu, cơ hữu với đời sống xã hội loài người mãi mãi. Tuy nhiên, mỗi thời nó có một thực thể khác, một tính chất khác, một giá trị khác đi. Đằng đẵng thời kì công xã nguyên thủy thì tổng thể văn hóa nhân loại là Folklore. Thời kì sản sinh chế độ tư hữu và Nhà nước thì Folklore tồn tại song song với văn hóa chính thống và là bộ phận chủ yếu của tổng thể văn hóa. Mãi mãi là như vậy.

3. Nếu có thì bản chất của hiện tượng và quá trình hiện đại này là gì?

Bản chất của Folklore trong thời kì hiện đại là:

- Tồn tại song song cùng cùng văn hóa chính thống, văn hóa chuyên nghiệp, xâm nhập và bổ sung cho nhau trong thực tiễn.

- Rơi rụng dần những yếu tố bất tiện dụng, bảo lưu những yếu tố còn hữu ích, nảy sinh những yếu tố mới, mở rộng những phương thức do hội nhập và giao lưu toàn cầu.

- Các phương tiện diễn đạt ngày càng phong phú và hấp dần, cùng với nó là khả năng lan tỏa nhanh, có giá trị ngày càng lớn với văn hóa cộng đồng.

3. Hiện đại hoá folklore được thể hiện như thế nào?

Quá trình Folklore hiện đại diễn ra dưới hai xu hướng: Xu hướng tự nhiên của xã hội và xu hướng có điều khiển của các thể chế.

Xu hướng tự nhiên vẫn là xu hướng chủ yếu. Xây dựng văn hóa vật chất như xóm làng, nhà cửa, chợ búa, nghề nghiệp, ẩm thực, tiện nghi, canh tác, hoạt động an sinh… Phong tục, tập quán cũ sống lại, mới hình thành: cưới xin, ma chay, lễ hội… Chỉ cần về một làng, xem thanh niên nhảy và hát đám cưới ta sẽ thấy ngay Folklore sôi động biết dường nào. Tất cả các bài hát điệu nhảy của họ đều mang tính “dị bản”. Ở đó, tính chất bác học không ai đếm xỉa tới. Họ hát, họ nhảy, họ sống tự nhiên, đầy hứng khởi vui vẻ. Hãy xem kiến trúc một dãy phố thì biết ngay, phong phú quá thể, ở đó, không thấy vai trò của ông Kiến trúc sư trưởng thành phố ở đâu cả. Có bao nhiêu ngôi nhà dân sinh được thẩm định và được duyệt bởi một tư duy bác học, người ta học theo nhau mà làm kiểu truyền miệng dân gian thôi. Hãy vào một quán bia sau giờ tan tầm. Ở đó, ẩm thực thật là tự do, món dân gian, món hiện đại, cổ kim đông tây đan xen, thật là dân dã. Đó mới là cuộc sống đích thực đang diễn ra.

Xu hướng có điều khiển là các thiết chế, các quy định pháp quy, các nghiên cứu chuyên sâu, các hình thức đào tạo trường quy để thấu hiểu, bảo tồn, phát huy phát triển Folklore trong thể chế hiện đại. Thiết chế của chúng ta từ địa phương đến trung ương: nhóm, tổ, phòng, ban, cục, vụ, viện, bộ rồi tổ, khoa,trường, chi hội, phân hội, hội. Quy định pháp quy thì cũng rất nhiều và với nhiều phương tiện truyền thông, nhiều định chế pháp lý. Nghiên cứu thì đề tài, dự án mênh mông…

Hai xu hướng này bổ sung cho nhau và có khi xung khắc với nhau, cùng tồn tại trong một thực trạng xã hội.

4. Một số tác phẩm có tác giả nhưng không xuất bản, tự lưu truyền trong dân gian, không ai tự nhận mình là tác giả, không đăng ký bản quyền tác giả, cứ thế lưu truyền rộng rãi, kể cả trên mạng internet, thậm chí trên cả bản in giấy nhưng khuyết danh, đó có phải là một ví dụ của cách tồn tại mới của folklore nhằm phù hợp, tương thích với đời sống mới, môi trường mới?

Điều này thuộc về Folklore ngôn từ, ta gọi là văn học dân gian. Sự phân biệt giữa hai lĩnh vực này không bao giờ là tuyệt đối cả, bao giờ cũng có vùng giao thoa của nó. Có tác giả nhưng vẫn là dân gian. Con người ta không chia mạch lạc nhân cách dân gian với nhân cách bác học. Không thể tiêu diệt “ông dân” Nguyễn Trãi trong “ông quan” Nguyễn Trãi được. Nếu sáng tạo nghệ thuật ngôn từ với tư cách “ông dân”, được nhân dân truyền tụng, sử dụng, làm biến cải trở thành khuyết danh thì nó có phẩm chất dân gian. Gọi nó là dân gian hay bác học lúc đó phải xem xem nó mang những đặc trưng gì trong thi pháp tác phẩm. Có nhiều tác phẩm mang nhiều đặc trưng, trong khi có những tác phẩm phân biệt với nhau rất rõ. Không chỉ bây giờ, mà trong quá khứ, tình trạng này rất nhiều. Nếu tồn tai trong thời hiện đại, chúng tôi gọi đó là một trạng thái của Folklore hiện đại. Sự phát triển của nó rất phong phú để phục vụ cuộc sống tinh thần hiện đại, đương đại. Hơn nữa, nó đáp ứng công chúng rộng rãi vì nó hiếu kì và rất hấp dẫn, sức lan tỏa rộng lớn, tính thời sự cao. Tính phản kháng với cái xấu hết sức mạnh mẽ. Nó chống tệ nạn, chống tham nhũng, chống các thế lực thù địch một cách hiệu quả.

5. Theo ông thì hiện tại và trong tương lai gần thì sự tồn tại của các giá trị follore của các cộng đồng dân cư, của cả các dân tộc sẽ như thế nào?

Các giá trị Folklore hiện đại tồn tại một cách hiển nhiên trong các cộng đồng dân cư và trên toàn bộ thế giới. Các giá trị đó vừa mang bản sắc văn hóa cộng đồng vừa hội nhập văn hóa toàn cầu. Hai điều này tương tác với nhau. Với sự phát triển của văn hóa dân chủ, Folklore càng phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Nhân dân sẽ càng làm chủ các tri thức bác học, tạo thành vốn tri thức cơ hữu và Folklore ngày càng có giá trị cao hơn. Chiếc xe “Mút cô vích” năm 1960 là đồ cung đình. Chiếc xe ấy bây giờ là đồ dân dã. Folklore tinh thần cũng như vậy.

6. Trở lại với internet, theo anh thì folklore sẽ tồn tại trên internét như thế nào? Vị trí của nó so với môi trường thứ nhất, môi trường gốc của nó là đời sống xã hội?

Internet là một phương tiện truyền thông hữu hiệu nhất của thế giới hiện đại.Với internet, Folklore hiện đại có cơ hội phát triển ngày càng phong phú trên nhiều mặt: thông tin ngôn từ, thông tin âm thanh, thông tin hình ảnh và nối kết cộng đồng. Trước đây tôi học hát dân ca từ các nghệ nhân, nay tôi học từ mạng. Trước đây, người dân nuôi cá từ truyền nghề nay có thể học từ các bài học trên mạng. Kết bạn nhảy múa có thể qua các trang mạng. Một tác phẩm điện ảnh dân gian có thể lan tỏa nhanh chóng khắp thế giới. Không cần trường lớp, không cần kịch bản đạo diễn, diễn viên chuyên nghiệp, tất cả chỉ là một người dân, một đoạn phóng sự thực tế sẽ tạo ra sức mạnh ghê gớm của cộng đồng. Một buổi dạy của giáo viên, nếu có những ứng xử phi sư phạm sẽ làm một cuộc đời chuyển hướng. Một chính trị gia có thể trở thành thằng hề nếu có một hành vi lố bịch trong công vụ được quay lại và phát tán. Trên các trang mạng, chúng ta có thể chứng kiến một lễ hội dân gian diễn ra qua nửa vòng trái đất, ta đập nhịp tim cùng họ, vui vẻ cùng họ. Hầu hết các trò chơi trên mạng xuất phát từ các mẫu đề Folklore quá khứ và hiện đại. Các thiết chế chuyên nghiệp sử dụng mạng để phục vụ lợi ích của thiết chế. Dân gian sử dụng mạng để thỏa mãn đời sống văn hóa của mình. Sự gặp gỡ, đồng thuận của hai động thái này thì đó là tình trạng lí tưởng. Nhưng rõ ràng và đáng tiếc là, tình trạng xung khắc lại luôn diễn ra. Mà cũng không thể khác được vì mâu thuẫn luôn luôn là động lực của vận động, của phát triển xã hội. Nó tồn tại một cách khách quan.

7. Thưa anh, lâu nay vẫn tồn tại một quan niệm rằng folklore là sản phẩm của người bình dân, còn các sáng tạo bằng văn tự, hoặc các ngôn ngữ có tính biểu tượng nghệ thuật khác như mĩ thuật, điêu khắc, nhiếp ảnh, múa là của giới trí thức, của những người có học, học cao…Điều đó chưa hẳn đúng vì nhiều sản phẩm folklore cũng là sản phẩm của giới trí thức. Ý kiến của anh về việc này thế nào?

Ngày nay, người ta dùng khái niệm “nhân dân” thay cho “bình dân”. Nhân dân được hiểu trong tính lịch sử và tính cụ thể. Trong tính lịch sử, mỗi phương thức sản xuất có một nhân nhân dân khác nhau về thành phần, cấu trúc, tính chất, chất lượng. Trong tính cụ thể, trong một con người, có cả phẩm chất “dân gian” và phẩm chất “bác học”. Lúc này là dân, lúc khác lại là quan, lúc này làm kiểu dân gian, lúc khác làm kiểu chính thống. Nghệ thuật bác học, cung đình và nghệ thuật dân gian phân biệt ở các đặc trưng cơ bản của nó đồng thời có sự giao thoa trên mọi mặt. Khi tôi viết bài khoa học, tôi là chính thống, chuyên nghiệp, nhưng khi tôi uống bia kể chuyện, tôi làm nghệ thuật ngôn từ dân gian. Không đứng nghiêm suốt ngày được. Dân gian cũng nói “Ai mà nắm tay thâu ngày đến sáng được”. Ông đại tá khi trong quân ngũ là người thuộc cung đình, khi về hưu, xùng xục đi ghi chép làm gia phả, kể chuyện “tầm tiên tầm tổ” là ông ấy làm Folklore đấy, thế thôi.

8. Vậy thì bây giờ, thời nay, mối liên hệ giữa trí thức và folklore nên được xác định như thế nào?

Trí thức là người được đào tạo chính quy trong một thể chế. Anh ta nếu ăn lương Nhà nước thì phải làm việc theo luật pháp quy định. Công việc của anh ta là nghiên cứu khoa học, thực hành kĩ thuật, truyền bá tri thức, kĩ năng, treo gương đạo đức, phản biện các vấn đề xã hội, chống lại những gì phản giá trị, phản nhân văn, phản dân tộc. Ngoài ra, anh ta cũng là một con người, một người dân trong tổng thể nhân dân. Folklore đối với anh ta, thứ nhất là một đối tượng nghiên cứu để bảo lưu và phát huy, thứ hai, là một sinh hoạt cho chính anh ta nếu anh ta cũng là con người như những người khác, có niềm vui đó.

9. Folklore thời nay có gì với cuộc sống, với sự phát triển của xã hội?

Folklore luôn luôn có giá trị cho con người. Folklore thực tiễn giúp con người biết làm ăn, trồng trọt, buôn bán, hành nghề. Nó chứa đựng cả kho tàng kinh nghiệm mà trường lớp chỉ dạy một phần thôi. Folklore tinh thần giúp con người tự khẳng định, không lạc loài so với đồng loại, nó chỉ huy ứng xử con người trong cộng đồng bằng tập quán, phong tục, dư luận. Nó điều chỉnh hành vi hướng tới những giá trị tốt đẹp, rút kinh nghiệm cho những hành vi tiêu cực. Nó cân bằng sự phát triển thái quá, dẫn đến khủng hoảng xã hội. Muốn phát triển bền vững thì hãy tôn trọng và biết lắng nghe Folklore.

10. Chúng ta, với tư cách là những người hoạt động văn hoá cần ứng xử với folklore như thế nào, nhất là folklore hiện đại?

Với tư cách là những nhà văn hóa, với Folklore, cần có những ứng xử như sau: Thứ nhất là nghiên cứu kĩ càng để hiểu nó và cung cấp tri thức hiểu cho cộng đồng. Thứ hai là thuận theo quy luật (đã hiểu) để bảo tồn, phát huy vào thực tế. Thứ ba, tôn trọng tri thức và tâm hồn cũng như thị hiếu của nhân dân, chủ thể Folklore, đồng thời lắng nghe một cách có trí tuệ để sửa mình, sửa thể chế ngày một tốt đẹp hơn.

11. Và những nhà quản lý xã hội, quản lý văn hoá nên nhận thức về folklore, kể cả folklore hiện đại, như thế nào với tư cách là một thực thể xã hội, một đối tượng quản lý.

Tôi hãi hai chữ “quản lí” lắm. Có những chữ rất đáng hãi. Hồi dạy ở Căm pu chia, giáo trình của chúng tôi tuyệt đối phải bỏ các chữ “hợp tác xã”, “tổ chức” vì có sinh viên nghe những chữ ấy đã ngất. Họ vừa qua tai họa từ chế độ cộng sản kiểu Polpot. Hai chữ “quản lí” ở ta không đến nỗi như vậy nhưng cũng phải xem lại. Vì, một nền hành chính tốt đẹp là một nền hành chính phục vụ chứ không phải là hành chính quản lí. Thượng tôn pháp luật, thực thi công vụ, nhiệt tình chức trách để làm “công bộc” của dân như Bác Hồ nói là tốt đẹp nhất.

Người thực thi công vụ gắn với Folklore cần có tri thức về nó. Trong hành trình nhân loại có những hiện tượng Folklore lỗi thời, có những hiện tượng bị đào thải, đồng thời có những hiện tượng Folklore phản giá trị. Có tri thức để rũ bỏ những gì phản giá trị. Ví dụ, nhân dân làm ăn kiểu hụi họ, tín dụng đen để bị lừa lần này lượt khác là phản giá trị, “cờ bạc bác thằng bần” là phản giá trị, hút hít chích choác nghiện ngập là phản giá trị, buôn thần bán thánh với bịp bợm “tâm linh thần giao cách cảm” là phản giá trị. Đồng thời, có tri thức để hiểu những gì có giá trị để tôn trọng, giữ gìn, phát huy. Đó là một đối tượng cần thấu hiểu để đồng hành, để hướng đạo chứ không cần “quản lí”.

     Xin cám ơn anh.

                                                                                          Vinh ngày 28-10-2012.

fShare
1
Top