ÔNG ĐÔNG CỨNG (Chuyện thật về Tiến sĩ Ngôn ngữ học Lê Đông)

ÔNG ĐÔNG CỨNG (Chuyện thật về Tiến sĩ Ngôn ngữ học Lê Đông)

Nguyễn Hùng Vĩ.

 

     1. Khoa Ngữ Văn trường ĐHTH Hà Nội, nay là hai khoa: Văn học và Ngôn ngữ, sắp kỉ niệm 60 năm thành lập. Có nhà báo gọi cho tôi để phỏng vấn về một số giai thoại trong khoa. Tôi từ chối.

Xong, ngồi ngay vào máy để viết những câu chuyện rất thực về một Tiến sĩ, nhà giáo cùng thế hệ, đã có trên 36 năm giảng dạy cùng môi trường với nhau. Biết viết về anh là rất nguy hiểm vì khi anh đã không đồng ý thì tôi sẽ bị “ăn quát” ngay lập tức. Anh nóng tính lắm. Đó mới là Lê Đông.

Buổi chiều một ngày thu 1980, tôi đi học ngoại ngữ về. Tiện thể, để cuốn sách trên bờ cỏ, tưới cho chiếu rau muống bằng thứ nước thối hoắc múc lên từ bể phốt nhà năm tầng, nơi chúng tôi ở tập thể. Chúng tôi sẽ ăn thứ rau ấy cầm hơi cho qua những tháng ngày đói kém.

- Vĩ ơi! Cầm sách lên đây tớ nhờ tí!

Từ hành lang tầng 4, anh thò đầu ra gọi.

Tôi bỏ chiếc xô xây dựng trát đầy hắc ín chạy lên.

- Ông đang học tiếng Pháp đấy à? Cho tôi mượn cuốn giáo trình?

- Anh làm gì?

- Tôi đọc xem, đang nhận dịch một tài liệu tiếng Pháp.

- Anh học bao giờ mà dịch?

- Dịch được chứ, tôi xem qua rồi. Từ chuyên môn khá giống tiếng Nga. Tôi xem là xem hư từ và mẫu câu tiếng Pháp.

Tôi đưa cho anh cuốn Sách học tiếng Pháp phổ biến thời đó.

Tối hôm sau tôi lên, thấy anh ngồi xổm trên ghế. Trước mặt là những tờ giấy nứa chi chít chữ. Anh nói:

- Xong chương mở đầu rồi. Càng lúc càng dễ xơi! Các chương sau là con vịt.

Đó là một chuyên luận tiếng Pháp về ngôn ngữ học, ước khoảng 300 trang. Anh với tay nhón nhúm mì sợi sống đưa mời tôi và nói: “Ăn đi, uống nước vào sẽ no”. Té ra, mấy hôm nay, anh chỉ xài mì sợi sống và làm việc. Thế thôi. Tôi dĩ nhiên là chạy xuống phòng mình  góp “cỗ” lên một vốc đầy lạc sống. Cán bộ khoa học chúng tôi thời đó sống như vậy đấy.

Mười ngày sau, anh xuống phòng tôi và gọi tôi lên chơi.

- Sách của ông đây. Viện Ngôn ngữ học nghiệm thu bản dịch rồi. Ông Lý Toàn Thắng đọc rồi. Không sửa chữ nào cả. Lại trả tiền tươi luôn.

Tôi kinh ngạc. Nhìn lên bàn, tôi thấy một đĩa 6 cái kẹo dồi. Chiếc đĩa chặn lên mấy món tiền cũ nát. Anh nói:

- Nhuận bút chia ba: cho con em ruột đang học Sư phạm một phần, gửi về nhà một phần và một phần nộp tiền ăn bếp tập thể.

Trời ơi. Mười hai ngày, từ chỗ chưa biết tiếng, anh học và dịch một tài liệu chuyên môn dày dặn Pháp ngữ. Lúc đó, học ở đại học Ngoại ngữ, tôi chưa thông những câu chào hỏi đơn giản.

Thế hệ tôi khi vào trường, nghe huyền thoại về GS Hoàng Xuân Nhị ba tháng tự học tiếng Nga đã dịch được giáo trình, thì đã mắt tròn mắt dẹt.

Đằng này anh, 12 ngày không hơn không kém. Anh biết tiếng Pháp thạo hơn chúng tôi từ đó.

2. Mấy ngày sau, gặp anh chỗ nhà bếp, anh than phiền:

- Chết dở! Chưa kịp đưa tiền cho cô em thì nó đã xách va li sang tá túc. Nó bỏ học đấy. Thi hai lần mới đậu vào được đại học Sư phạm, khoa Chính trị (hay Giáo dục công dân gì đó, tôi không nhớ), thế mà lại bỏ học.

- Lí do vì sao vậy?- Tôi hỏi.

- Thế này thôi, thầy dạy môn triết học duy vật lịch sử, cô em tôi đứng lên hỏi, thầy trả lời loanh quanh, nó cật vấn, thầy cả vú lấp miệng em. Giữa lớp nó nói: “Thưa thầy, nếu học những điều như thế này thì chúng em không thi đại học để làm gì”. Sau đó về phòng xách va li sang bên này.

Tôi nói:

- Có dòng rồi. Anh cứng như thế thì em gái anh cũng thế thôi.

Trước đó, chúng tôi đặt biệt danh cho anh là “Đông cứng” vì không chỉ tay anh vật tay thắng hết mà tính tình anh thẳng băng. Khoa học là tối thượng.

3. Không lâu sau đó, anh lại gặp và tâm sự:

- Ông cụ trong Thủ Đức bị gẫy tay mà chả có tiền vào thăm.

- Sao vậy?

- Thế này thôi, cụ đang cuốc cỏ thì ngoài đường có tai nạn giao thông. Cảnh sát giao thông đến, lái xe gọi riêng ra đưa tiền để chạy lỗi. Trong rặng rào, cụ trông thấy hết, liền bỏ cuốc chạy ra, nằm ngang trước mũi xe kêu: “Không được chạy! Giải quyết cho xong đã! Các anh hối lộ cảnh sát, tôi thấy hết!!!”.

Nhà xe mấy đứa lực lưỡng xúm lại, “Đ…mạ lão già Bắc Kỳ!”, đứa nắm tay, đứa nắm chân, lẳng vèo ông cụ vào vườn. Thế là bó bột cái tay phải.

Đúng là bố nào con nấy. Nhà hai cụ trước vốn ở Cổng Hậu, Nam Định. Chúng tôi tiện đường vẫn ghé thăm. Sau đó, cụ theo chị đầu vào Thủ Đức sinh sống, thế là xảy chuyện.

4. Rồi anh đi Liên Xô thực tập. Ai cũng mừng vì ít ra khi về là có cái bàn là, cái xe đạp đỡ khổ. Lúc này chúng tôi đã có gia đình riêng cả và mỗi nhà tá túc một nơi.

Một hôm, Vũ Đức Nghiệu, đang họp khoa, thì thào vào tai tôi:

- Lê Đông bỏ về rồi đấy! Bất hợp tác. Nghe nói chỉ cầm về được con lật đật thôi.

Tối, tôi đạp xe ra phố gặp anh rồi kéo nhau ra Hồ Gươm ngồi nói chuyện.

- Sao anh bỏ về?

- Cụ Cao Xuân Hạo sang Nga và tôi đã gặp cụ…

- Rồi sao?

- Cụ đông khách và nhiều việc lắm. Tôi đến và gõ cửa. “Cứ vào!”. Tôi xoay nắm đấm bước vào phòng. Cụ nằm úp vào trong, nói: “Ai đấy? Có việc gì đấy!”. Tôi nói: “Thưa thầy, em là Lê Đông, Đại học Tổng hợp Hà Nội ạ!”. Vẫn không ngoảnh ra, cụ hỏi: “Có gì nói đi?”. Tôi đứng trình bày bài thu hoạch mới viết. Một lúc cụ bỗng quay ra. “Thôi chết, anh ngồi xuống đi văng đi chứ! Nói lại tôi nghe nào”. Cụ thõng chân xuống và đi ra ghế, lắng nghe tôi tiếp tục trình bày. Xong, cụ nói: “Bài đâu rồi, đưa văn bản ngay cho tôi. Sao không gặp tôi trước. Ở Hà Nội, mấy người làm như anh?”. Cụ xin lỗi rằng, cả tây lẫn ta, người ta quấy quả cụ nhiều quá, toàn việc không đâu. Hôm nay, lần đầu tiên mới gặp một người nói thứ ngôn ngữ khoa học.

Hôm sau, tôi lên khoa gặp giáo vụ bên đó hỏi mấy người về bài viết, họ hứa hẹn một ngày nhưng vẫn không tìm ra. Tôi lên khoa đi bới các thùng rác xem họ có vứt vào không, đã cắt hủy cũng được, tôi sẽ nhặt về làm kỉ niệm. Nhưng, cũng như ta thôi ông ơi, họ coi cái khoa học này là gì đâu. Tôi về, về thôi, vì chả học được gì hơn. Cụ Hạo giờ chắc đang ở bên ấy.

Hôm lên máy bay, chen chúc còn hơn mua thực phẩm. Mấy gói kẹo rơi hết, may con lật đật buộc vào cổ nên vẫn đưa về cho con chơi. Chán phè.

5. May mắn, anh có được căn hộ tập thể theo tiêu chuẩn vợ gần “Bãi biển Hi rôn” (chúng tôi gọi đùa khu tập thể Ủy ban khoa học xã hội phố Đội Cấn). Lâu lâu có việc tôi cũng qua chơi chút. Anh ở trên tầng và cũng cơi nới một phòng như bao nhà khác. Khi đổ sàn, đã xem ngày giờ và nhờ người dưới tầng một lên đổ xô vữa đầu tiên. Không hiểu sao, người đó đổi ý, không giúp cho nữa. Anh đi về, xùng xục xách xô vữa níu thang trèo lên đứng giữa tấm đan, ngẩng lên mà quát lớn: “Trời ơi trời. Tao đổ đây. Tuổi tác cái gì? Có đánh thì đánh tao chết tươi đây luôn!”. Thế rồi cũng xong.

Một hôm, tôi gặp một GS già đầu ngành, ông than phiền:

- Ông bạn quí hóa của ông dở lắm. Cùng với tôi và một GS nữa viết chuyên đề. Chia ba ra, mỗi người một mảng. Ông ấy hoàn thành và nộp. Tôi đọc rồi. Chất lượng trên cả tuyệt vời. Hôm qua gặp tôi, ông ấy bảo: “Em đốt hết rồi! Vẫn chưa ưng ý!”. Tưởng nói đùa, tôi bảo ông ấy cho xin lại 1 bản nhưng bản ông ấy là viết tay, làm gì có bản thứ hai. Sắp nghiệm thu rồi mới dở chứ. Quá hạn là cái chắc.

Tôi liền gặp anh và hỏi. Anh nói:

- Nhà tớ tí cháy đấy. Thấy tớ ôm tài liệu ra sân đốt, thằng con thấy hay, bật lửa đốt luôn giá sách. Tớ đang lim dim ngồi thì thấy nó reo lên. Ngoảnh vào thì lửa đã bắt lên. Hú hồn! Còn chuyện kia ư? Chưa ưng ý thì đốt đi viết lại, có gì đâu. Nó nằm trong đầu cả chứ đi đâu mà vội.

- Gần trăm trang làm sao nhớ nổi?

- Mình viết thì phải nhớ chứ, tớ đọc cậu nghe! Vấn đề thế này đây…

6. Gặp anh đang đứng hành lang, tôi gọi anh ra sân. Tôi muốn trao đổi với anh một ít về hư từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII qua các tài liệu quốc ngữ và chữ nôm.

Vừa nghe, anh loay hoay ngó quanh rồi bước sang cái rãnh nhặt lên một viên sỏi. Cả hai ngồi thụp xuống trao đổi. Nghe này: “Nó đến BỞI làng Đông…Nó xuống BỞI trời…Sao lại thế?”. Sỏi viết lên sân bê tông thì chả ra chữ gì hết nhưng chúng tôi hiểu nhau. Vấn đề này liên quan vấn đề khác, cứ thế mà tranh cãi. Một lúc, thấy một sinh viên tới:

- Thưa thầy, cặp của thầy đây ạ!

- Bỏ xừ. Chuông vào chưa?

- Thưa hai thầy, hết hai tiết nữa rồi ạ, bây giờ đã 11 giờ.

Tôi ngẩng lên. Chết thật! Hai người mồ hôi ướt như chuột lột mà nắng thì gay gắt làm sao. Thế là chúng tôi đã ngồi xổm hai tiếng đồng hồ trên sân nắng.

Tôi nói:

- Xin lỗi các em! Hai thầy say chuyện quá.

- Không sao ạ! Chúng em đứng níu cửa sắt nghe hai thầy đấy ạ. Hay lắm ạ!

Tôi khát khô cả họng, liền rủ:

- Em khát lắm, ra Lê Văn Lương làm cốc bia anh ạ.

- Gần Ngã Tư Sở không?

- Không, đường này cơ, tiện về nhà anh hơn.

- Tớ chả biết. Tớ vẫn đi lối Ngã Tư Sở.

Hết nói với anh rồi. Đã hơn mười năm nay, con đường Lê Văn Lương đã mở. Từ nhà anh sang trường gần và tiện hơn nhiều thế mà anh cứ đường xưa mà đạp đi vòng thôi. Không thèm quan tâm đường mới. Trong đầu anh chỉ chứa chất những suy tư ngập tràn: Ngôn ngữ học.

Chuyện về thầy tôi, về anh và bạn bè tôi ở cái trường này có thể kể không hết. Nhưng nhân kỉ niệm 60 năm, tôi nhớ vài chuyện vui vui về nhà khoa học quí mến này để hầu chuyện mọi người.

Hà Nội 7/11/2016.

Top