Cửu Trùng Đài và vàng của thời gian - Tản văn Khuất Bình Nguyên

fShare
0

Khuất Bình Nguyên                                                                                                                                                 Chân dung Văn học

 

Cái chết của anh cái chết một nhà văn

Không bao giờ là cái chết.

Văn Cao.

 

Những người sinh ra ở giữa lòng thế kỉ trước, khi bước vào năm 1960 trở đi, họ chừng trên dưới 10 tuổi. Khi ấy ở miền Bắc, đặc biệt là vùng châu thổ sông Hồng, không ai không đọc Lá cờ thêu 6 chữ vàng của Nguyễn Huy Tưởng. Nó phổ cập đến nỗi, tất cả học sinh cấp 1, cấp 2, từ lớp 1 đến lớp 7, một tập hợp đến hàng triệu trẻ con nhớ vanh vách chuyện Trần Quốc Toản đứng ngoài cuộc họp ở hội nghị Bình Than bóp nát quả cam lúc nào không biết và tự mình thành lập đội quân với lá cờ thêu 6 chữ: phá cường địch - báo hoàng ân. Không ai trong số hàng triệu trẻ con vô lo vô nghĩ thời ấy biết rằng, chỉ sau đó vài năm, họ cũng đi ra chiến trường đem theo tinh thần phá cường địch ấy vào cuộc chiến sinh tử đuổi bầy giặc dữ.

Trong lịch sử văn chương Việt Nam thời hiện đại, ít ai sớm nhận ra ý nghĩa và thành công trong việc lấy cảm hứng từ các đề tài lịch sử và thậm chí viết theo cảm hứng ấy ở ngay cả các đề tài hiện đại để xây dựng thành các tác phẩm văn học có tầm vóc thuộc đủ các thể loại từ kịch, tiểu thuyết đến ký sự như Nguyễn Huy Tưởng. Và điều quan trong là cảm hứng ấy xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của ông, bắt đầu từ rất sớm, khi ông khởi sự cầm lấy việc bút nghiên và dấn thân vào cuộc đời văn sỹ sóng gió mà đầy thử thách. Năm 1942, khi ông 30 tuổi, Đêm hội Long Trì được đăng trên tạp chí Tri Tân. Chủ đề lịch sử tiếp tục được triển khai trong Cột đồng Mã Viện, An Tư, Vũ Như Tô… Những đề tài hiện đại được ông viết ra trong Bắc Sơn, Những người ở lại, Bốn năm sau, Sống mãi với thủ đô, Lũy hoa… Ngay cả Ký sự Cao Lạng, còn nóng hổi sự kiện và con người của chiến dịch biên giới 1950, bằng cảm hứng bi hùng. Phải chăng cảm hứng lịch sử như là nét nhạc chủ đạo của một đời văn đã làm nên vẻ đẹp đặc sắc nhất của văn chương Nguyễn Huy Tưởng. Ông đã ghi tên tuổi của mình lên cái giá sách vinh quang của văn đàn Việt Nam hiện đại bằng một phong cách tiềm ẩn sự ca vang của bi hùng mà hào hoa kỳ lạ. Sách Văn Tâm Điêu Long trong thiên Tri âm có viết: Người tính tình khảng khái thích văn chương hùng tráng. Người sâu sắc thích văn chương súc tích. Người phù phiếm thích văn chương hoa mĩ. Người hiếu kỳ thích văn chương quái lạ. Tôi nghĩ nhà văn họ Nguyễn Huy thuộc loại người thứ nhất. Ít ai bị Nguyên Huy Tưởng mê hoặc kéo đi theo văn chương của mình như trường hợp ông Nguyễn Tuân. Khi đọc bản thảo Sống mãi với thủ đô để viết lời giới thiệu, dường như Nguyễn Tuân bị ám, tựa hồ như ông không thoát ra được miên man chắp nối thêm cho ông Tưởng về cái nhát cuốc đầu tiên phá thành Hà Nội, bổ vào thân thành một sớm mùa thu 10-8-1894. Đến 6 tháng sau thì Hà Nội bắt đầu thắp điện. Năm 1902 làm xong cầu sắt xe lửa qua sông Hồng. Cứ như là Nguyễn Huy Tưởng đi trước, Nguyễn Tuân theo sau, dẫn người ta bước vào với Sống mãi với thủ đô, thấy ở ngày hôm nay Hà Nội vẫn gây gây mùi khói vấn vương ngàn năm Thăng Long chốn cũ. Nguyên Tuân đã giành cho người bạn văn của mình hai lần sang trọng.

Trong toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng có nhiều tác phẩm nổi tiếng, nhưng kiệt tác đưa ông đứng vào hàng của một trong những vị trí dẫn đầu của làng văn hiện đại, không thể không kể đến Vũ Như Tô. Đúng như ông Nguyễn Tuân đã từng nói: cả một đời viết văn, với kịch Vũ Như Tô là yên tâm được rồi. Vũ Như Tô được viết từ năm 1943 và xuất bản lần đầu sau cách mạng tháng 8 – 1945 bởi Hội Văn hóa cứu quốc vào tháng 9 – 1946.

Đại Việt Sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên, vị quan sử quán tu soạn thời Lê Thánh Tông biên khảo hồi cuối thế kỉ 15 vẻn vẹn chỉ có 3 đoạn ngắn nói về Vũ Như Tô. Gộp cả 3 đoạn ấy lại cũng chưa đầy một trang khổ sách bây giờ.

…Đại hạn, trong nước đói to.

Làm điện lớn hơn trăm nóc. Trước đây người thợ ở xã Minh Quyết huyện Cẩm Giàng là Vũ Như Tô (tức đô Nhạn) ở nhà lấy cây mía làm thành điện lớn trăm nóc, đến đây đem kiểu nhà ấy dâng lên khuyên vua xây dựng.

…Vua…sai bọn nữ sử cởi truồng, chèo (thuyền) ở hồ Tây, Vua cùng chơi, lấy làm thích lắm. Người thợ Vũ Như Tô làm điện hơn trăm nóc, hết kiệt tiền và sức dân trong nước,… Có chỗ đã làm xong lại đổi lại, đắp đổi lại, đắp lại mấy năm không cùng. Quân lính bị bệnh dịch đến một phần mười.

Võ sỹ tên là Hạnh cầm giáo đâm vua ngã ngựa rồi giết chết… giết chết Vũ Như Tô ở ngoài cửa kinh thành. Trước đây Vũ Như Tô xuất thân là thợ, lấy kỹ xảo mà mê hoặc vua, được lạm bổ đô đốc kiêm các sở bộ công giờ đương làm điện lớn trăm nóc chưa xong, dân gian ai cũng nghiến răng tức giận. Đến khi vua bị giết, Như Tô cũng bị bỏ xác ở chợ. Quan dân ai cũng chê cười hoặc có người nhổ vào xác…

Nếu chỉ dựa vào chừng ấy sử liệu và viết theo tinh thần của sử quan Ngô Sỹ Liên, chắc Nguyễn Huy Tưởng sẽ có được một vở kịch hay. Có điều tầm vóc tư tưởng và ý nghĩa nghệ thuật sẽ không thể vượt qua Đêm hội Long trì. Đó chỉ là một bức tranh sinh động về một chế độ chính trị suy tàn và phi luân mà lịch sử tuy không vô tình mà lại vô tình bởi sự đau đớn và nhục nhã phải đi qua. Nhưng tài năng của Nguyễn Huy Tưởng đã xây dựng được một tình huống kịch có điểm sáng nảy sinh từ xung đột giữa cái thiện, cái nhân bản của con người mà Vũ Như Tô, Đan Thiềm là đại diện, đối lập với mặt bên kia của mâu thuẫn đại diện cho các ác, cái phi nhân của thế lực vua quan thối nát là Lê Tương Dực, Trịnh Duy Sản… và không thể có bi kịch nếu không có sự éo le của lịch sử, khi cùng là xây dựng Cửu Trùng Đài, Lê Tương Dực chỉ mong có chốn ăn chơi sa đọa, còn Vũ Như Tô coi đó là điểm nhấn của Kinh thành lộng lẫy, đó là nơi thể hiện lương tâm, trách nhiệm, tài năng trước đất nước và thời cuộc. Không khí bi tráng khi xung đột được giải quyết; Cả Kinh thành và Cửu Trùng Đài rừng rực cháy bởi sự phẫn nộ của người dân và binh lính. Cửu Trùng Đài thiêu rụi sự mong muốn sa đọa của cái ác, nhưng cũng chưa hẳn soi sáng cho cái thiện vì việc lớn chưa thành. Bản lĩnh của Nguyễn Huy Tưởng không phải ở chỗ là một người chép sử, ông đã xây một Cửu Trùng Đài khác trong văn chương để chỉ ra cái quy luật muôn đời trong sự éo le của cái thiện, trong tình huống không bao giờ đồng thuận với cái ác, làm nên một trong những vở kịch mẫu mực của nền văn học kịch nói Việt Nam hiện đại.

Nguyễn Huy Tưởng đã chiêu tuyết cho Vũ Như Tô và phả vào lịch sử một tinh thần hoàn toàn mới, một mẫu thuẫn có tính phổ biến, mang ý nghĩa nhân loại và ông đã viết nên một khúc ca bi tráng về lương tâm của người nghệ sĩ trước đất nước và thời đại, và bi kịch của họ khi phụng sự trong một thời kì lịch sử suy tàn. Vũ Như Tô như là tiêu điểm của xung đột kịch khi được đặt trong tình huống ba lần bị giết bởi ý định có sẵn của vua, của quan và của lòng hận thù của dân bị cùng cực bởi Cửa Trùng Đài. Vũ Như Tô đâu muốn điều đó.

Vở bi kịch 5 hồi Vũ Như Tô mang vóc dáng và tầm cỡ của các vở bi kịch phương Tây, ngay từ đầu những năm 1940, đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của nền văn học kịch hiên đại. Có thể nói thể loại kịch xuất hiện ngay từ nửa đầu thế kỉ 20, cùng với phong trào thơ mới (1930-1945). Đó đều là sản phẩm của sự gặp gỡ giữa văn hóa phương Tây và phương Đông. Nhưng dường như thơ có sự bùng nổ đồng loạt và đông đảo hơn. Chỉ trong vòng 10 năm đã hình thành một thế hệ các nhà thơ mới. Ít nhất cũng là 44 người được đứng tên trong Thi nhân Việt Nam năm 1942. Ở thể loại kịch có khác. Cả thế kỷ 20 tính từ Tản Đà, Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ… đến những người viết kịch sau này như Lưu Quang Vũ, Nguyễn Huy Thiệp… chỉ vẻn vẹn có 43 người. Trong đó Nguyễn Huy Tưởng là một tác giả thuộc lớp các nhà văn đi tiên phong. Và trong số 43 tác giả kịch ấy, nếu được chọn ra 5 người ở lớp tiêu biểu nhất thì phải kể đến Nguyễn Huy Tưởng. Và truyền thống văn học trong quá khứ của dân tộc ta lại chủ yếu phát triển loại hình ca kịch - kịch hát. Nói lên điều đó càng thấy thêm sự đóng góp của Nguyễn Huy Tưởng cho văn học kịch hiện đại.

Điều đáng quý và đáng trân trọng nhất ở Nguyễn Huy Tưởng là sự thống nhất của lý tưởng xã hội, lý tưởng thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương và nhân cách sống của ông. Trong lịch sử văn học không một nhà văn nào liên tục viết nhật ký 30 năm liền từ 1930, khi ông 18 tuổi, đến 1960, chỉ dừng lại 2 tháng trước khi ông mất. Cảm ơn bà quả phụ Trịnh Thị Uyên cùng người nối dõi tông đường nhà văn Nguyễn Huy Tưởng – anh Nguyễn Huy Thắng đã gìn giữ cẩn thận và đầy yêu thương hơn 40 cuốn sổ nhật ký được viết ra và theo chân nhà văn đi qua bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu vùng đất của xứ sở này. Họ đã gìn giữ tài liệu ấy từ năm 1960 để đến gần nửa thế kỷ sau, 46 năm sau, năm 2006, Nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng đã được nhà xuất bản Thanh Niên công bố. Gồm 3 tập với khoảng 1500 trang sách. Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng là một tài liệu lịch sử quý giá. Biết bao nhiêu con người, sự kiện được tỏa sáng bởi tấm lòng trung thực, chân thành và mình bạch của một con tim yêu thương luôn luôn đập giữa lòng thời cuộc, thể hiện sâu sắc mà sinh động một nhân cách cao quý và bình dị trong làng văn hiện đại. Ớ đó ta bắt gặp một Nguyễn Huy Tưởng đời thường vô cùng hiếu đễ với bậc sinh thành, như nghe tiếng kêu dứt ruột của ông: Mẹ ơi, có thấu lòng con. Tôi nhớ mãi những đoạn nhật ký buồn thương được ghi vào tháng 12 – 1942 khi Nguyễn Huy Tưởng ngóng chờ và mong đợi nhuận bút của cuốn tiểu thuyết Đêm hội Long trì để làm quà dâng mẹ. Bà cụ lúc ấy đã ốm liệt giường và không ăn uống được gì nữa. Và những trang Nguyễn Huy Tưởng viết về bà Uyên, người vợ yêu quý của ông, vừa trang nhã vừa nồng thắm mà mỗi người đọc làm chồng như tìm được một phần mình trong đó. Nhưng nổi trội hơn cả là nỗi lo toan ưu thời mẫn thế luôn luôn thường trực và đau đáu trong ông. Đến cái ổ khóa nhà ông, ông cũng đặt theo năm Cách mạng Pháp 1789. Ngày 17/6/1960, già một tháng sau đấy thì ông mất, ông vẫn lo tình hình chính trị ở Á Châu…Trước những sai lầm của Cải cách ruộng đất làm cho xóm làng thêm xơ xác, ông đau đớn vô cùng. Ngày 16/6/1956 ông cho biết đã trực tiếp viết thư gửi Hồ Viết Thắng, một cán bộ cao cấp về công tác này để xin gặp. Nhưng Hồ Viết Thắng đã từ chối. Nếu cuộc gặp ấy xảy ra chắc chắn Nguyễn Huy Tưởng sẽ nói những điều ông viết trong Một ngày chủ nhật. Đức tính trung thực và ngay thẳng của Nguyễn Huy Tưởng trong tình bạn là biểu hiện cao quý nhân cách của một nhà văn, đặc biệt trong những giai đoạn sóng gió của thời cuộc. Ngày 14/12/1956: Tiền nong cho già đình thì thiếu, con lên sởi, lo vì công việc, lo cho bạn, không sao ngủ được. Cái nhóm Trần Lê Văn, Quang Dũng, Hữu Loan, Thanh Châu vắng vẻ chuyện trò. Ta nói thẳng với T.C… anh ta nói ta nặng vế trách Đảng. Nhưng có lo gì? Nghĩ thế nào nói thế. Anh em càng tin. Trước đó một ngày, nhật kí viết: Khi gặp đồng chí T.C, khi mình nói không nên có thành kiến với Nguyễn Hữu Đang, thì thiếu bình tĩnh ngay. Rồi quay sang vặc: Sao anh chỉ trách Đảng mà không trách bọn họ... Ta để việc này trôi đi ư?... Đã bao nhiêu người oan uổng vì những báo cáo không xác thực này. Thời gian đã đi qua 60 năm, bao nhiêu điều đã được nhận thức lại mà đọc những trang viết này vẫn cảm thấy nóng bỏng lòng trung thực, ngay thẳng của nhà văn. Nguyễn Huy Tưởng đâu phải chỉ bị thôi thúc tình cảm giữa con người với con người. Đó không chỉ là kinh nghiệm mà còn là bản lĩnh chính trị của ông. Nhà văn đã từng tham gia Hội truyền bá Quốc ngữ, Hội Văn hóa cứu quốc những năm trước Cách mạng, từng là một trong số những người đầu tiên xây dựng báo Tiền Phong bí mật từ tháng 6/1945. Người cất lên tiếng nói thẳng thắn ấy như vừa bước ra từ Hội trường quốc dân đại hội Tân Trào tháng 8/1945, từ Quốc hội khóa 1 năm 1946, từ những trang ký sự chiến trường rực lửa Thu đông 1947 và chiến dịch biên giới 1950. Biện chứng về truyền thống và thời đại, lịch sử và cách mạng dẫn dắt tư duy sáng tạo nghệ thuật của ông. Nhật kí Tết Mậu tuất 1958 viết: T.H nói ăn cơm bây giờ thì phải phục vụ bây giờ. Có biết đâu ăn cơm bây giờ nghĩa là ăn cơm của cả tổ tiên và của cả con cháu. Nói thẳng, nói thật, nói có tổ chức, vì sự sống còn của lợi ích chung là phong cách của Nguyễn Huy Tưởng. Nếu ông im lặng chắc cũng chẳng ai trách ông. Nhưng nhân cách nhà văn không cho phép ông làm điều đó. Ông đã từng viết: Phải cao quý, hỡi nhà văn.

Tôi cho rằng một trong những nội dung quý giá nhất của Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng là những quan niệm của ông về sáng tác văn học cũng như trách nhiệm của người cầm bút. Ở đây hội tụ một chuỗi những suy tư, trăn trở mà Nguyễn Huy Tưởng đã chắt lọc từ trí tuệ, tâm hồn, máu và nước mắt của suốt một đời lao động nghệ thuật tràn trề say mê và đầy nghị lực của người nghệ sỹ. Những điều gan ruột ấy đã được ông viết ra từ rất sớm. Nhật ký ngày 24-12-1930, ông khao khát: làm chóng xong quyển truyện để tôi cống hiến cho quốc dân tôi, cho dân Việt Nam tôi, là dân mà tôi yêu một cách vô hồi, vô hạn. Nhật ký ngày 17-9-1931 viết: Corneille, Racine, Molière sở dĩ bất tử vì các nhà ấy phần lớn là nhà tâm lý học, thường trọng tình hơn trọng cảnh. Tả cảnh chỉ là cách làm cho sự tả tình đúng mà  thôi. Văn chương thuần tả cảnh không mấy lúc mà tiêu diệt. Dường như, toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng đã làm ra theo tinh thần ấy. Nhật ký những năm kháng chiến chống Pháp nhiều lần đề cập đến quan niệm văn chương. Ngày 6-9-1949, bằng trực giác của mình, nhà văn đã sớm linh cảm thấy những điều chưa hiện rõ mặt đằng sau của cái mới: Ta muốn viết chế diễu một thứ bôn-sê-vích, đạo đức hẹp hòi, có cái vẻ Khổng Tử ngày xưa, xét nét về luân lý một cách chật hẹp. Nguyễn Huy Tưởng dường như đồng điệu với Nam Cao trong sự lo lắng người lãnh đạo không hiểu về Văn nghệ… Đến nhật ký ngày 6-7-1957, lo lắng này thể hiện càng rõ: Trong nội bộ Văn nghệ. T.H xem phim Anna, có hình ảnh người phụ nữ déscolletée (hở vai): bèn cấm! (…). Nhật ký ngày 2-2-1957 ông nhìn nhận đúng đắn vấn đề muôn thuở của sáng tạo văn học gắn bó với những vui buồn trăn trở của nhân loại mọi thời và vẻ đẹp vĩnh cửu của thi ca: Thơ Lý Bạch và cái hào khí của nhà thơ… Làm thơ tiễn bạn có phục vụ chính sách nào mà sao bây giờ truyền tụng? Ai truyền tụng những câu bảo vệ chính sách? Nên suy nghĩ nhiều về vấn đề này. Phải đến cuối thế kỷ 20, những năm đổi mới, tức là hơn 30 năm sau, chúng ta mới nhìn nhận toàn diện vấn đề ấy. Nhật ký ngày 28-2-1957 cho thấy Nguyễn Huy Tưởng đã nhìn xa trông rộng được nhiều vấn đề của mấy chục năm sau: Tổng kết đại hội (Văn Nghệ). T.H lại bốc. Vẫn cái luận điệu cũ. Rào trước đón sau. Nói cần phải đoàn kết nhưng thực sự có đoàn kết được đâu. Hẹp hòi đến thế, hỏi tranh thủ sao được văn nghệ sỹ miền Nam.

Trong cuộc sống đời thường, Nguyễn Huy Tưởng luôn bày tỏ sự đồng cam cộng khổ với các bạn văn. Ông lo lắng cho Nguyễn Sáng, một họa sĩ có tài, trong kháng chiến chống Pháp từng vẽ giấy bạc cho Chính Phủ, vậy mà hòa bình không có thuốc để vẽ. Ông chia sẻ cảnh ngộ của Bùi Xuân Phái, nghèo túng chỉ mong có được một commande nào đó để có tiền nuôi vợ nuôi con. Và ông đặt câu hỏi: chế độ ta cứ để cho những nhân tài ấy sống mai một đi ư?… Nguyên Hồng rất yêu quí ông Tưởng, thường hay gọi đùa Nguyễn Huy Tưởng theo tên gọi một nhà văn nổi tiếng nước ngoài nói lạc đi là Mao Thuỗn. Là con mõ già của văn hóa cứu quốc. Là ông Chánh Hòa. Hồi ký văn học Những nhân vật ấy đã sống với tôi, in năm 1978, Nguyên Hồng đã viết ngay ở những trang đầu: Ngày xưa có… Trương Chi chỉ là cái cớ. Nguyên Hồng giành phần trang trọng nhất cho ông Tưởng: Một buổi đạp xe trên quốc lộ 1, đi qua giữa vùng chợ Dầu và chợ Lim - ông Chánh Hòa… người rất chi đôn hậu, rất chi say viết, ngồi “cắn” bàn như bắt vít vào ghế được anh em rất mến, cho biết: Có một khúc của sông Tiêu Tương chảy qua đây và gốc chuyện Trương Chi là ở đấy… Nguyễn Huy Tưởng có ý định sau này sẽ về làm nhà ở trên quãng di tích sông Tiêu Tương ấy để sẽ viết thêm tiểu thuyết và kịch lịch sử.

Ước mộng này của nhà văn đã không biết trước phải đổi mặt với thách thức cuối cùng cay nghiệt nhất của đời ông. Trong một tờ giấy nhỏ bằng lòng bàn tay đã ố vàng tôi được nhìn thấy Nguyễn Huy Tưởng ghi chương trình tháng 4 - 1960 có 5 việc đánh rõ thứ tự a, b, c, d, e. Mặt sau của tờ giấy ghi bằng tiếng Pháp tên một nhà văn phương Tây và giá một số quyển sách. Lưu ý đó không phải là tên thuốc. Đó là chương trình làm việc cuối cùng của nhà văn được ông viết trên giường bệnh. Như thể ông không để ý đến cái gì sẽ xảy đến. Như thể ông cố làm hết những việc cần thiết nhất ở dương thế này. Đó cũng là thể hiện nhân cách của một nhà văn đã sống hết lòng vì đất nước và nhân dân mình. Ngày 25/7/1960 (tức 2 tháng 6 âm lịch), Nguyễn Huy Tưởng thở hơi thở cuối cùng trên giường bệnh. Nhưng như Văn Cao trong bài thơ của ông ấy có tiêu đề Nguyễn Huy Tưởng đã viết Cái chết của anh cái chết một nhà văn - không bao giờ là cái chết.

Tôi đã sống ở Hà Nội chừng nửa thế kỷ rồi, không biết bao nhiêu lần đi qua hồ Tây mà không sao tìm được cái cảm giác của ông Nguyễn Tuân nghe chuông chùa Trần Quốc bồi hồi bên hồ, lại muốn bóng hồ trả lại cho Hà Nội hôm nay cái bóng mái cong những chín tầng đài ngày nọ - Cửu Trùng Đài. Lịch sử cứ thầm lặng đi qua mà chẳng bao giờ trở lại được nữa. Nhưng Cửu Trùng Đài ngày xưa đã sụp đổ mà không còn dấu tích gì nữa trong bóng mây bóng nước mặt hồ. Biết bao nhiêu thăng trầm hưng vong, hoang phế cuộc đời tưởng đã đi vào quên lãng cùng với sự vô tâm của thế thái nhân tình. Nhưng không. Có một miền ký ức lóng lánh ánh vàng của thời gian trong tác phẩm văn học của những văn tài. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Tưởng mà những chữ Vũ Như Tô như được thêu bằng vàng của thời gian sẽ còn lại mãi mãi. Bởi vì đó là vẻ đẹp của tâm hồn Việt Nam. Nó nhắc nhở và đưa ra lời cảnh báo cho mọi thời đại về những gì kỳ vĩ sẽ bị thiêu rụi nếu không vì những giá trị căn bản của con người. Nó chỉ ra bi kịch không thể tránh khỏi của những nhân tài, trong một xã hội suy tàn, mạt pháp và phi luân. Nhà văn không chỉ là chứng nhân của lịch sử mà còn là lương tâm của thời đại. Điều đó thật rõ ràng trong trường hợp của Nguyễn Huy Tưởng. Hơn thế nữa, ông còn là nhà văn hóa tiêu biểu của thời ông đã sống.

Nguyễn Huy Tưởng sinh 1912, con một người hàn sĩ ở xử Kinh Bắc; Mấy khóa thi đều hỏng cả, sớm phải về cõi âm, để lại Huy Tưởng khi mới lên 7 tuổi. Rồi cậu bé phải sớm lang bạt xứ người ở đất Hải Phòng. Cái mảnh đất mà Claude Bourrin, trong cuốn Bắc Kỳ xưa - một cuốn sách khảo cứu về sân khấu, thể thao, đời sống đô thị từ 1884 đến 1893 đã ca ngợi: khi đổ bộ xuống một xứ sở mới, người Anh chỉ biết xây dựng một ngân hàng thì người Pháp xây rạp hát. Và thành phố Cảng là nơi đầu tiên nền kịch nói phương Tây đổ bộ vào. Chính ở cái thành phố hoa lệ mà đầy những cạm bẫy người ấy, nhà văn của chúng ta đã học hành một cách nghiêm cẩn và thành người lớn ở đây. Ít nhất là cũng khác so với thời còn bé ở quê. Thời đó cậu bé quê làng Dục Tú còn rụt rè và thích làm thơ, thỉnh thoảng cùng người cháu họ trốn nhà đi Lý Nhân, Mai Động xem và chính ông cũng nhảy vào hát ống. Một thứ văn nghệ bình dân 100%. Ống sữa bò dán da ếch 2 đầu, giữa giăng dây chỉ. Trai gái hát đối với nhau, thường là những đêm trăng nông thôn Việt Nam bình dị quê mùa. Có lẽ cái chất hào hoa trong văn chương Nguyễn Huy Tưởng là sự hợp lưu của 3 dòng chảy văn hóa Kinh Bắc - thành phố Cảng và Thăng Long Hà Nội âm thầm hòa quyện vào nhau.

Sau năm 1960, không hiểu Nguyễn Huy Tưởng có về làm nhà trên đất huyện Tiên Du - một vùng lúa xanh rời rợi có sông Tiêu Tương chảy ngầm dưới đất như có lần ông nói với Nguyên Hồng hay không? Ở đó ông tiếp tục nghĩ suy và mách bảo một người nào đó trong số chúng ta ở thời đại bây giờ tiếp tục viết trên cảm hứng lịch sử về những chủ đề quá khứ cũng như hiện đại? Ai mà biết được? Tháng 10/1996, Nguyễn Huy Tưởng cùng với Văn Cao, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng… và nhiều người khác đến nơi trang trọng nhất của đất nước này để nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật. Lúc ấy Cửu Trùng Đài còn chưa tắt lửa sau lưng họ.

Tháng 5/2017

 

fShare
0
Top