TIẾNG CHUÔNG THIỀN ĐỊNH CHÙA MỘT CỘT QUA THƠ HUYỀN QUANG

Nguyễn Hùng Vĩ

     Trúc Lâm tam tổ Huyền Quang thiền sư ( Lý Đạo Tái 1254 – 1334) đời nhà Trần được nhân gian gọi là sư trạng nguyên vì ông đã từng thi đỗ cả thi hương và thi hội, đạt đệ nhất giáp tiến sĩ. Ông thông hiểu cả Nho – Phật – Đạo và quyết chí tu hành theo phái thiền tông Trúc Lâm.

     Bài thơ Diên Hựu tự (Chùa Diên Hựu, tên khác là Nhất Trụ tự, tức Chùa Một Cột) được ông sáng tác trong thời gian tu thiền tại Thăng Long, trong ngôi quốc tự đó.

     DIÊN HỰU TỰ

     Thượng phương thu dạ nhất chung lan

     Nguyệt sắc như ba phong thụ đan

     Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh

     Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn

     Vạn duyên bất nhiễu thành già tục

     Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan

     Tham thấu thị phi bình đẳng tướng

     Ma cung phật quốc hảo sinh quan.

Dịch nghĩa:

     Ngôi chùa chốn kinh đô đêm thu, tiếng chuông đã ngưng

     Màu trăng rợn như nước trên cây phong đỏ

     Con chim cưu gắn trên mái chùa đang ngủ ngược dưới mặt hồ vuông như tấm kính lạnh

     Hai cây tháp đá trắng đứng nhìn nhau như hai ngón tay ngọc tê buốt.

     Vạn cơ duyên không lay động được thiền tâm, đó là cái thành ngăn niềm tục

     Khoảnh khắc vô ưu giúp cho tuệ nhãn phóng chiếu rộng khắp

     Tham thiền thấu triệt được thị phi đều biểu hiện bình đẳng như nhau

     Thì ma cung hay phật quốc cũng như nhau, mà thôi.

     Thượng phương chính là nói tắt mấy chữ “thượng kinh phương trượng”. Phương trượng vốn là gian tu thiền hình vuông, mỗi bề một trượng, sau này cũng là từ chỉ chung chùa chiền. Thượng kinh là kinh đô.

     Chuông chốn thiền lâm có hai loại chính: Định chung (còn gọi Hồng chung hay Đại chung). Đó là loại chuông rất lớn, cao đến 150 cm và đường kính 65 cm trở lên. Gọi là Định chung vì nó gióng lên để báo giờ tăng sư thiền định. Loại nhỏ gọi là Hoán chung (hay còn gọi là Tiểu chung). Loại này thường có chiều cao 65 cm và đường kính 35 cm trở xuống. Gọi là Hoán chung vì nó thường dùng để báo giờ, thức chư tăng dậy vào lễ hoặc báo chúng dân biết canh giờ trong ngày là chính.

     Xét bài Diên Hựu tự của Huyền Quang với chất thiền đậm đà của nó,ta biết chiếc chuông lúc đó ở Chùa Một Cột là Định chung – Hồng chung to lớn.

     Bài thơ có đủ cảnh thiền, tâm thiền và tuệ thiền.

     Bốn câu đầu là sự tỉnh lặng gần như tuyệt đối của cảnh thiền và bắt đầu bằng sự ngưng lặng của tiếng chuông thiền định: nhất chung lan.

     Tập thiền ngày xưa, chúng tăng ngủ từ 9 giờ tối, đến gần 12 giờ thì thức dậy thiền định, gọi đó là dạ tọa hay dạ định. Hết giờ, hồi chuông vang lên rồi ngưng lặng. Những bậc cao tăng thiền định tiếp gọi là bồi tu. Đó là trường hợp của Huyền Quang.

     Màu trăng rợn như nước (như ba – ba là sóng lăn tăn, rờn rợn) để đủ trông thấy cây phong đỏ. Nhà thơ dùng chữ “phong thụ” mà không dùng chữ “phong diệp” (lá phong) vì ánh trăng không đủ để quan sát chi tiết và rõ ràng đến vậy, hơn nữa, câu thơ gợi nhớ điển phạm “giang phong ngư hỏa đối sầu miên” của Trương Kế trong bài Phong Kiều dạ bạc đời Đường: Cây phong đỏ biểu tượng của mùa thu.

     Tác giả làm bài thơ trong ngày rằm hoặc tuần trăng sáng mùa thu.

     Còn tĩnh lặng hơn ở câu thơ thứ 3 và thứ 4: bóng con xi vẫn (naguda) trên mái chùa in xuống đáy hồ vuông phẳng lặng, lạnh băng như ngủ ngược. Một câu thơ ảo diệu. Và kia, hai cây tháp chõm đá trắng (bạch manh tháp – có từ thời Lý) đứng song song như hai ngón tay ngọc tê buốt.

     Cái sự tĩnh lặng đến tận cùng: chuông ngừng lặng, cây phong đứng im, trăng như nước, xi vẫn ngủ ngược, mặt hồ như gương lạnh, tháp đứng tê buốt…Một tập hợp hình ảnh với độ tập trung cao nhất.

     Với thiền cảnh đó thì thiền tâm bắt đầu phát lộ.

     Nhân duyên là khái niệm quan trọng của Phật giáo. Nhân là tác động nội tại của chủ thể. Duyên là tác động của ngoại cảnh đến chủ thể. Vạn vật, vạn pháp đều là do kết quả tích tụ của nhân và duyên. Nó là điều kiện chủ quan và điều kiện khách quan như chúng ta thường quan niệm vậy.

     Khi thiền định, điều cốt lõi đầu tiên là tâm trí không nhiễu loạn bởi tác động từ bên ngoài, bởi cái “vạn duyên”: Vạn duyên bất nhiễu. Khi không còn bị lay động, thì phép thiền sẽ là bức tường thành để ngăn chặn các tục lụy, các phiền lụy, các niềm tục nữa (thành già tục).

     Nửa tích tắc (bán điểm) đi vào tâm vô ưu, không tư lự, nghĩ ngợi thì sẽ khiến tuệ nhãn quán xét được không gian rộng lớn của cả thế giới (nhãn phóng khoan). Điều này làm ta nhớ lại chuyện Vạn Hạnh thiền sư đời Lý, tọa thiền nửa đêm tại Tiêu Sơn mà nghe thấy bốn bên mộ tổ nhà Lý (Hiển Khánh Vương) tận Hoa Lâm vang lên các bài sấm Đông – Nam – Tây – Bắc (Sư thương ư dạ định, văn mộ tứ biên hữu thanh), sai người chép lấy, rồi đích thân sư đến tận nơi xem kỹ, rồi đọc một bài kệ định vị ngôi mộ này.

     Cái tâm thiền đó sẽ dẫn đến cái tuệ thiền.

     Tham thiền và thấu hiểu thì sẽ thấy rằng những thị phi: phải trái, trong ngoài, mình người, sắc không, xấu tốt…đều quy tập về bình đẳng tính trí cả, và lúc đó, sắc tướng và hư không sẽ giống nhau, bình đẳng với nhau. Còn lại là tinh thần từ bi rộng lớn cho cả chúng sinh lẫn vũ trụ.

     Và như vậy, ma quỷ hay thần phật, cũng đều do cái quan niệm người ta mà ra cả, nó hòa đồng tất cả. Nhân sinh quan, vũ trụ quan, phật sinh quan hay quỷ sinh quan cũng đều được bao dung trong một triết đẹp đẽ là “hảo sinh quan” cả thôi: Ma cung phật quốc hảo sinh quan.

     Khu Chùa Một Cột hiện nay trông thật nhỏ nhắn nhưng nó chứa đựng những thông điệp văn hóa cả ngàn năm Thăng Long. Đó là một di sản, một bảo vật vô giá cho muôn đời.

Hà Nội ngày 10/3/2019.

Top