TAU NHỚ MI – BÀI THƠ “MUA VUI” TRỌ TRẸ CHÂN TÌNH.

Nguyễn Hùng Vĩ.

 

    Tau ở nhà tau tau nhớ mi

    Nhớ mi nên phải bước chân đi

    Không đi mi nhủ răng không đến

    Đến thì mi nhủ đến mần chi

    Mần chi tau đến mần chi được

    Mần được thì tau đạ mần chi.

    Bài thơ có một số dị bản khác biệt nho nhỏ, đồng thời được cho là của Nguyễn Công Trứ. Có thể là thật thế vì nó hợp với phong cách hào hoa của một nhân cách đa tình thị tài xứ Nghệ làm quan ở Huế, hai vùng có những tương đồng phương ngữ thổ âm nhất định. Không rõ là từ tác giả hay từ người ghi chép tam sao, bài thơ thường có tên là Bỡn nhân tình.

    “Bỡn” cũng có nghĩa là để vui vẻ, để “mua vui”. Nhưng đọc kỹ bài thơ, ta thoạt vang lên câu Kiều cuối cùng, kết thúc áng thơ ca tuyệt phẩm nhân văn thế giới: Mua vui cũng được một vài trống canh. Người xưa sâu sắc nước đời.

    Tình yêu và nỗi nhớ có muôn vàn sắc thái và cung bậc: diết da, bi lụy, bi thương, nồng thắm, sáng trong, nồng nàn, khắc khoải, dằn vặt, nghi ngờ… Và vì thế, thơ tình cổ kim đông tây có muôn vàn tuyệt phẩm về nỗi nhớ khi xa cách.

     Kinh Thi trong bài thơ tình nổi tiếng Quan thư: Cầu chi bất đắc/ Ngụ mị tư bặc/ Du tai du tai/ Triển chuyển phản trắc (Mong mà không được gặp/ Ngủ không thể ngon giấc/ Đêm dài hỡi đêm dài/ Vật vã cùng lăn lóc…) là một kiểu.

    Ở đây, Nguyễn Công Trứ có một lựa chọn khác. Câu mở bài là một phát ngôn chân thực đến tuyệt đối. Nó nói thẳng, nói thật, nói chính xác đến từng chữ tâm trạng của một người đang yêu, đang nhớ:

     Tau ở nhà tau tau nhớ mi.

    Không hoa hòe hoa sói, không uyển ngữ cầu vồng, không ví von biểu tượng, không luồn lách ngôn từ, không vàng mã trang kim…Ngôn từ thật như đếm: Tình cảnh và tình cảm phơi ra rõ ràng. Câu thơ súc tích toàn chữ “cái” mà không có hư từ hư ảo. Ngôn từ đạt đến độ trong suốt đến buột miệng, tự nhiên.

    Khi đau đớn tột cùng, ta kêu lên tiếng “Mẹ ơi!” bản ngữ.

     Vậy yêu đến hết lòng, tác giả chọn bản ngữ thẳng thắn để thể hiện. Tau nhớ mi!. Hết. Nhà tau và nhà mi, bởi ngôn từ thế tục nên chắc là không gian gần gụi thôi. Không tam tứ núi, ngũ lục thất bát đèo chi cả. Thẳng và nhanh đến mức khó nghĩ đọc qua 7 chữ mới hết câu thơ. Nó tuột ra vậy.

    Tác giả có một lựa chọn bứt phá, trái cựa, phản biện với kỹ năng làm thơ muôn đời được đào luyện trường quy là “Ý kỵ lộ, mạch kỵ trực” (Ý thì kiêng chuyện sớm phơi ra, mạch thơ thì kiêng chuyện thẳng đuồn đuột). Không! Yêu thì nói yêu. Nhớ thì nói nhớ. Hãy chọn con đường ngắn nhất. Có thương thì thương cho chắc, có trục trặc thì trục trặc cho luôn. Hề.

    Chính cái thổ ngữ chứa chan của câu thơ đã gia tăng mức độ thật thà của nỗi nhớ nhân tình. Một lựa chọn đầy trải nghiệm thơ ca.

     Câu thứ hai thừa tiếp một cách tự nhiên cái mạch đó. Tự nhiên về tâm lý, tự nhiên về cảnh huống, tự do về hành động và nó biện hộ cho cuộc thăm hỏi vì tình. Hai câu mở bài đã hoàn thành sứ mệnh. Một điều đáng nói ở đây là câu thứ hai này, thổ ngữ giảm thiểu. Một chữ “mi” với sáu chữ phổ thông. Rõ ràng tác giả có một ý đồ dùng bản ngữ làm chất liệu cho toàn bài nhưng câu này có khác. Không khó để viết một câu khác bản ngữ hơn. Nhưng tác giả không câu nệ. Phải nói được cái muốn nói cho tự nhiên, không biến bản sắc địa phương thành thổ sản chơi chơi. Tự do và chân thành như vốn dĩ phải thế. Và câu thơ dung dị hiện ra:

     Nhớ mi nên phải bước chân đi.

    Hai câu tiếp theo mới thực sự ý nhị. Cái ứng xử thường tình của cô gái Việt đang yêu được đọc lên như “đi guốc trong bụng”:

     Không đi mi nhủ răng không đến

     Đến thì mi nhủ đến mần chi.

    Tình yêu đã có từ hai phía. Cô gái cũng nhớ người tình của mình. Xa là mong, là nhắc: “Tại sao lại không đến?”. Nhưng khi chộ mặt vẫn buột mồm: “Anh đến làm chi?”. Yêu chứ làm gì nữa. Đã yêu thì để gặp nhau sẽ có thể không nguyên cớ và cũng có thể bịa ra vô vàn nguyên cớ. Cái vô vàn đi hết một vòng thì cũng là cái không vậy. Cô nói như một thói quen giao tiếp bột phát, gìn giữ và tự vệ. Lý lẽ của tình yêu thì mạch lạc sao được. Dù đã già thì chuyện tình cũng như trẻ mỏ thôi. Nó bất chấp lý lẽ, nó phải đọc ngược, phải trái khoáy. Một nhà thơ nước ngoài từng viết (dịch theo Nghệ ngữ): Tau nhủ mi đi đi/ Răng mi nỏ đứng lại/ Tau nhủ mi đừng đợi/ Răng mi bỏ mi về…). Tình yêu là như vậy.

    Còn chàng trai đọc ngay ra đằng sau mấy chữ “đến mần chi” là một thông điệp khác theo chủ quan của anh ta.

     Khổ nỗi là chữ “mần” trong bản ngữ miền trung đa dụng, đa nghĩa hơn hẳn chữ “làm” trong tiếng phổ thông. Vì trong trường nghĩa và trong giao thoa ngữ âm, “mần” gợi tưởng “mần/mằn mò”, “tần mần”, “tần mần thử chơi”. Cái này thì chữ “làm” không tài nào lung linh cho bằng được. Khả năng gợi nhục cảm của chữ “mần” hơn hẳn. Đến mức, nó, qua giao tiếp văn hóa, nay đã tràn ra cả bắc bộ.

     Chàng trai bắt lấy tâm sự kín đáo này và tiếp lời:

     Mần chi tau đến mần chi được

     Mần được thì tau đạ mần chi.

    Em nói chuyện ấy ư? Làm sao được! Ông bà, cha mẹ, anh em, gia đình, gia phong…làm sao được mà làm. Anh nhớ mà đến thôi. Còn nếu như chuyện kia mà làm được thì anh cũng đã làm rồi vì anh đã nhất quyết yêu em. Chữ “chi” cuối cùng trong phương ngữ được dùng như một ngữ khí từ (!) trong văn nói. Đối thoại sau đây cho ta rõ:

     -Sao anh đi ăn trôm? – Đói chi!. Sao anh vô được vườn người ta? – Chui chi! Anh trộm cam bằng cách chi? – Bứt chi! Trộm xong anh làm chi? – Chợ bán chi!.

    Bài thơ, như các bản ghi thông thường, kết thúc ở câu sáu này, bất chấp nó lạ mắt với thể thức thơ trung đại thường 8 câu hoặc 4 câu. Nó tự do, tùy tiện và thích thảng, gợi mở. Kết mà không kết.

    Bài thơ được làm theo lối một hai chữ cuối của câu trên được lẩy xuống làm thành chữ đầu của câu tiếp theo tao nên sợi dây dích dắc lăng líu nối kết toàn bài. Tình yêu là vậy đó, nỗi nhớ nó bện thừng dằng dai, không dứt ra được. Cũng như lý lẽ tình yêu nó dây rợ líu lo, nhùng nhằng níu kéo.

     Đã có nhiều cách đọc bài thơ, hầu hết chỉ dựa vào tính chất phương ngữ mà phục cái tài, mà vui cái tình. Bài thơ được tập theo, phỏng theo, bắt chước, phát triển thành nhiều hình thức dị bản. Đời của một bài thơ như thế cũng đã là thành công, hầu như tất cả đều hướng đến cái hài, đều cực đoan hóa thổ ngữ cho vui.

    Nhưng, với tư cách là người bản ngữ, ta thấy trên mặt sóng xôn xao lấp lánh của ngôn từ là cả một tấm chân thành đầy nhân tình nhân nghĩa.

Hà Nội 13-12-2017.

 

 

 

 

 

Top