Hò Lệ Thuỷ trong bức tranh tổng thể văn hoá dân gian

fShare
0

Nguyễn Hùng Vĩ.

      I. Tiến sĩ Dương Văn An (1514 -1591), đời Mạc, người quê làng Tuy Lộc, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình ngày nay đã để lại cho hậu thế tác phẩm địa lý-văn hóa nổi tiếng Ô châu cận lục được viết vào năm 1553, khi ông về chịu tang mẹ ba năm ở làng quê.

     Là người bản quán, lại được tiếp thu ghi chép kĩ càng trước đó của hai vị tiên nho về Triệu Phong và Tân Bình, tác phẩm của ông là vô cùng quý giá, mở đầu cho việc mô tả, khảo cứu một vùng duyên hải miền trung từ Đèo Ngang đến Quảng Nam. Trong đó trọng tâm vẫn là Tân Bình (Lệ Thủy và Quảng Ninh ngày nay), chốn quê cha đất tổ mà ông thân thuộc nhất, nặng lòng nhất.

     Văn phong của ông thật là thú vị, phồn vinh. Nó vừa khúc chiết, nghiêm cẩn của một nho gia đại khoa, nhưng lạ thay, lại vừa hóm hỉnh, phóng túng mang tâm hồn nghệ sĩ: cái chất dân dã đã tràn vào khiến nó bớt đi sự câu nệ của trường quy mà đan xen hơi thở cuộc đời dung dị. Ông định danh tác phẩm của mình là “cận lục” là bởi thế chăng?!

     Nhưng điều cơ bản là, ông gửi cho ta thông điệp về một vùng văn hóa đã giàu sự tích tụ nhân lực, vật lực, trí tuệ và tâm hồn: nói chung là cả văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất.

     Không thể không ngạc nhiên khi gặp trong tác phẩm của ông những hội hè bơi thuyền rộng khắp vào xuân sang, tục hát Đưa linh (tiễn vong), Chèo cạn (thiển phiếm), Bài thẻ (tàng cưu với chữ “cưu” có nghĩa là thẻ; việc này chắc có quan hệ trực tiếp với Bài chòi Lệ Thủy mà hiện nay vẫn bảo tồn). Rồi “Tuy Lộc đa mỹ tửu, Cổ Liễu đa kỹ nhi” (Tuy Lộc nhiều rượu ngon tốt, Kẻ Tréo nhiều ca nhi giỏi nghề).

     Như vậy là còn trước cả quá trình nam bắc phân tranh diễn ra, đất này đã rất dày dặn về văn hóa và văn hóa đó đã mang bản sắc vùng rõ rệt: Một vùng mà về địa lý là liền kề giữa núi rừng-sông rạch-đồng ruộng-đầm phá-biển khơi. Một vùng địa linh nhân kiệt. Một vùng của những người về phương nam mở cõi, tụ cư, mở rộng cơ đồ quốc gia Đại Việt.

     Một chi tiết đáng lưu ý, Dương Văn An viết rằng, thổ âm vùng này tương tự thổ âm vùng Hoan Diễn (Nghệ Tĩnh). Thổ âm là một trong những chất liệu hàng đầu làm nên đặc sắc của dân ca. Sau này, Lê Quý Đôn (1726-1784) cũng viết trong Phủ biên tạp lục là thổ âm giống Thanh-Nghệ. Những người xa xưa này, chắc chắn mang theo trong hành trang mở cõi của mình những vốn liếng văn nghệ dân gian, những câu hò điệu hát từ quê hương bản quán và phát triển nó trong quá trình định cư ở đây. Dấu ấn sự mạnh mẽ của hò sông Mã, dấu ấn diết da của hát ví sông Lam, sông La với thể song thất lục bát sở trường không thể nói là không lưu dấu phảng phất trong Hò khoan Lệ Thủy.

     Năm 1558, Nguyễn Hoàng (1525-1613) vào nam mở đầu sự nghiệp xây dựng nhà Chúa một cõi, đóng dinh gần thập kỉ ở Ái Tử. Vùng Lệ Thủy là nơi cung cấp chủ yếu nhân tài vật lực cho công cuộc nam tiến lần này. Với một khu vực văn hóa đã dày dặn thì ảnh hưởng của văn nghệ dân gian từ Lệ Thủy chắc chắn được Nguyễn Hoàng, “dòng dõi thi thư”  (như Trịnh Tùng (1550-1623) đã viết), vận dụng để tạo dựng cơ đồ tương lai. Dân ca đã tích tụ nơi đây có cơ hội tỏa rộng về phía nam, tạo nên sắc thái mới.

     Cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn (1627- 1778) kéo dài như một cơn đau triền miên của cả dân tộc, Quảng Bình, Lệ Thủy là địa đầu của phương nam hứng chịu những nỗi cơ hàn loạn lạc. Sông Gianh gần hai trăm năm là giới tuyến, là tiền tuyến. Vùng văn hóa nam và bắc sông Gianh, tuy trước đây là một cơ tầng chung nhưng nay có cơ hội hình thành làm hai vùng sắc thái ngày càng đậm đà. Vùng Quảng Ninh, Lệ Thủy, phía trong Đồng Hới, như là nơi mà các tầng văn hóa tinh thần hội tụ, ngày càng nền vững, móng sâu, và dần dần trở thành một hệ thống mang tính địa phương sâu sắc, độc đáo, đẹp đẽ.

     Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, lập nên triều Nguyễn trong lịch sử, đóng đô ở kinh thành Huế. Nơi đây, triều đình mới xây dựng nền văn hóa cung đình, văn hóa đại diện cho quốc thể, quốc gia. Tính chất tinh hoa của âm nhạc, sân khấu, kiến trúc, điêu khắc, hội họa được chưng cất và phát triển ở chốn kinh kỳ hoa lệ. Những tinh hoa cung đình đó vốn chưng cất từ dân gian, nay lại tràn ngược ra chốn dân dã tạo nên chất lượng và sắc thái mới. Hò khoan Lệ Thủy, từ cốt cách đặc biệt của mình, đã tiếp thu tinh hoa, làm phong phú và đẹp đẽ thêm kho tàng vốn có. Có thể nói đây là giai đoạn bừng nở về giá trị nghệ thuật của Hò khoan Lệ Thủy. Dân gian tích hợp thành bác học, và bác học tỏa giá trị vào dân gian để tạo nên chất lượng nghệ thuật mới.

     Trong thời Pháp thuộc, tiếng hát tiếng hò của Hò khoan Lệ Thủy đảm nhận một chức năng mới: tuyên truyền yêu nước chống Pháp. Những câu chuyện, những giai thoại về các nghệ nhân dùng tiếng hò để tuyên truyền, đấu tranh với giặc đến ngày nay vẫn được truyền tụng. Hò khoan mang một sứ mệnh mới, gắn với sự tồn vong của dân tộc.

     Cách mạng Tháng Tám thành công. Đó là cuộc cách mạng mang nhiều tính chất: chống phong kiến, chống ngoại xâm, xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa. Việc hướng đến nhân dân như là mục tiêu, động lực, lực lượng của cách mạng, đã khai quật được sức mạnh tổng thể toàn xã hội, trong đó có nghệ thuật dân gian, thuộc về nhân dân.

     Ngay sau đó là chín năm kháng chiến trường kỳ, bắc miền trung mang biệt danh Bình Trị Thiên khói lửa. Một biệt danh không chỉ phản ánh một chiến trường đánh Pháp khốc liệt mà là kết quả của sự tương đồng các yếu tố địa lý – nhân văn – số phận lịch sử gần khớp với Ô châu ngày trước.

      Một lần nữa, Hò khoan Lệ Thủy sát cánh, hòa chung tiếng hát với anh em Trị - Thiên, bổ sung cho nhau, tiếp thu lẫn nhau trong nhiệm vụ cách mạng và kháng chiến. Giao thoa dân ca một lần nữa diễn ra để ngày càng phong phú hơn, đa dạng hơn.

     Cũng từ đây, một trang mới cho Hò khoan đã mở ra. Trong lòng xã hội mới, các sinh hoạt tập thể mới hình thành: nông dân, quân đội, trường học, dân công với hội họp, sinh hoạt các tổ chức chính trị xã hội…đã làm cho môi trường diễn xướng Hò khoan được mở rộng. Từ đơn giản đến phức tạp hơn, các tiết mục, các tổ hợp làn điệu, các tiểu phẩm phục vụ cuộc sống chiến đấu mới đã từng bước hình thành. Quy luật sân khấu hóa dần hiển hiện. Một cung cách diễn xướng mới, một sức sống mới, một mục tiêu mới của Hò khoan đã định hình trong giai đoạn này.

     Hiệp định Giơ ne vơ (1954) và sau đó là là chiến tranh chống Mỹ giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, rồi chiến tranh phá hoại lan rộng. Quảng Bình nay lại mang biệt danh mới: Tuyến lửa anh hùng.

     Chặng đường mới của Hò khoan giai đoạn trước được tiếp tục. Ngoài việc tổ chức hát tập thể động viên các phong trào chiến đấu và lao động sản xuất trên đồng ruộng, trận địa, bệnh viện, Hò khoan xuất hiện qua loa phóng thanh, qua phương tiện Đài tiếng nói Việt Nam. Phong trào rộng lớn “Tiếng hát át tiếng bom” hình thành trên đất Quảng Bình, Đoàn văn công Bình Trị Thiên cũng hoạt động chính đất này mà thành phần chủ yếu là những trai thanh gái lịch Quảng Bình, mang trong lòng truyền thống dân ca Hò khoan đậm đà.

     Trong sự giao hòa âm điệu các vùng Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế…Hò khoan Lệ Thủy được ảnh hưởng nhiều và cũng bổ túc cho mình những nét hay, nét đẹp để tự hoàn thiện, đồng thời cốt cách Lệ Thủy vẫn vững vàng nhờ bề dày tích lũy hàng trăm năm độc đáo.

     Đây là chặng phát triển gần nhất làm gia tăng chất lượng âm nhạc cũng như bài bản của Hò khoan Lệ Thủy. Cũng giai đoạn này, ta vui mừng đón nhận những âm sắc, giai điệu, chất liệu ngôn từ của Hò khoan Lệ Thủy vang lên trong nhiều ca khúc cách mạng mà nhạc phẩm Quảng Bình quê ta ơi của nhạc sĩ Hoàng Vân là tiêu biểu nhất.

     Sau năm 1975, đất nước thời hậu chiến biết mấy gian nan nhưng cuộc sống thời bình đã trở lại, Hò khoan Lệ Thủy được chú trọng sưu tầm hơn bởi các thế hệ Phòng Văn hóa thông tin, Trung tâm văn hóa thể thao và nhiều người khác. Các câu lạc bộ làng, gia đình, khối phố, trường học từng bước được bồng bột phát triển.

     Lời căn dặn ân cần của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi về thăm quê luôn luôn được khắc ghi: ”Lễ hội đua thuyền hàng năm diễn ra trên dòng Kiến Giang, vì vậy, phải giữ gìn dòng Kiến Giang thật sạch đẹp để cho người dân đến xem. Và đặc biệt, phải bảo vệ, phải giữ gìn cho được điệu Hò khoan Lệ Thủy”.

     Hò khoan Lệ Thủy, trong thời kỳ hiện đại, hoàn toàn tự tin và tự hào rằng: Đã hoàn thành tốt nhất sứ mạng nghệ thuật, sứ mạng chính trị của một dân ca trước trách nhiệm bảo vệ và xây dựng quê hương,  bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

 

II.  Trong tổng thể dân ca Việt Nam và dân ca vùng duyên hải miền trung, Hò khoan Lệ Thủy là một hệ thống vừa tương đồng, vừa khác biệt, chứng tỏ sự tồn tại vững bền của nó với tư cách là một Di sản văn hóa phi vật thể.

     Một Di sản được thừa nhận phải là một hệ thống riêng, đóng góp những đặc sắc văn hóa của mình cho cộng đồng chung. Những đặc sắc đó của Hò khoan Lệ Thủy có thể nhận ra trên các phương diện khác nhau của hệ thống dân ca này:

-Sự gắn bó còn tươi ròng của nó với đời sống thực tiễn và đời sống tinh thần trực tiếp của người lao động. Hầu như lĩnh vực lao động nào trong đời sống cũng có mặt Hò khoan. Đẵn gỗ, cánh bè, chèo thuyền, đi đường, đập đất, cày ruộng, cấy hái, thu hoạch, nện nền, cất nhà, ra khơi, vào lộng, kéo lưới…Rồi bơi trải, tang lễ, cưới xin, hội hè, bài chòi, hội nghị…Hò khoan sẵn sàng cất lời ca tiếng hát. Trong tổng thể dân ca các vùng miền, không ở đâu, yếu tố HÒ đậm đặc như nơi đây. Hầu hết các Mái hò đều có mở có kết, có xướng và có xố. Duy nhất Hò lỉa gỗ, không có xướng xố nhưng lại có những động lệnh thúc dục xen giữa giai điệu chính, gắn chặt với công việc.

     Những dân ca khác như Xoan ghẹo, Chầu văn, Quan họ, Hát giậm…sự liên hệ trực tiếp với đời sống lao động là đã rất gián tiếp, vời xa. Các yếu tố thính phòng, cầu cúng nổi trội.

     -Dẫu là HÒ, tức là nó gắn trực tiếp với hành vi lao động cụ thể, nhưng tính chất trữ tình lại là yếu tố nổi trội trong Hò khoan Lệ Thủy. Từ nội dung, âm điệu, đến kỹ thuật xướng xố, âm sắc thêu thùa…đều hướng đến cái đẹp của tâm hồn, của tình cảm, mang tính chất biểu hiện nhiều hơn là tính chất mô tả. Một thống kê khiến chúng ta ngạc nhiên và thấu hiểu nó: trong các sưu tập từ trước đến nay, chúng ta thấy có được số lượng 1041 đơn vị lời ca cổ (bài). Trong đó có đến 798 lời ca là thuộc thể thơ song thất lục bát với các biến thể phong phú của nó, tức chiếm đến 76,6%. Trong khi đó, tổng kho tàng ca dao Việt Nam (người Kinh) thì thể lục bát chiếm 85%, song thất lục bát là không đáng kể! Chúng ta biết rằng, các nhà ngôn ngữ học đều khẳng định: song thất lục bát là thể thơ dành cho trữ tình vì cấu trúc tuần hoàn chặt chẽ của nó trên mọi phương diện. Tính trữ tình đậm đà của tâm hồn Hò khoan đã khiến các nghệ nhân dân gian lựa chọn thể thơ này để sáng tạo.

     -Tính phổ biến cộng đồng của Hò khoan Lệ Thủy là đặc biệt rộng lớn. Hầu như ai cũng có thể cất lời hò và nhất là tất cả mọi người đều có thể xố theo trong mọi cuộc hát. Lòng yêu chuộng điệu dân ca quê hương của người dân nơi đây khó nơi nào sánh được.    

      -Về mặt dân nhạc, trên thực trạng hiện nay, Hò khoan Lệ Thủy là một hệ thống gồm 9 mái hò, mỗi mái là một làn điệu tự thân. Các mái có mối quan hệ nội tại với nhau nhưng đủ những yếu tố để phân biệt.

     +Bộ phận quan trọng nhất là các mái hò ở khu vực đồng bằng trung tâm: Mái dài (rải/ruổi), Mái nhì, Mái chè, Mái ba, Mái xắp, Mái nện. Sáu mái hò này được diễn xướng phổ biến trong đời sống nông nghiệp và sông nước (trên sông phá ao hồ).

     +Bộ phận tiếp theo là mái hò ở vùng đồi núi: Hò Lỉa trâu (còn gọi là Lỉa gỗ). Mái hò này của những nam nông dân làm việc sơn tràng sử dụng trâu làm sức kéo và chiếc “lỉa” làm công cụ. Một vùng núi rừng Quảng Ninh, Lệ Thủy đều có mái hò này nhưng sắc thái âm nhạc có đôi phần khác nhau.

     +Bộ phận nữa là các mái hò vùng biển: Hò khơiNậu xăm. Đây là các mái hò mà nam ngư dân thường hát khi đi khơi mênh mông (Hò khơi) và về lộng, vào bờ kéo cá (Nậu xăm).

     Như vậy, một quan sát tổng quan, bỏ qua những ý kiến đại đồng tiểu dị, ta tạm dừng lại ở việc coi kho tàng Hò khoan Lệ Thủy gồm 9 mái phân biệt với nhau.

     -Tuy nhiên, trong thực tế diễn xướng, bất cứ mái hò nào cũng không đông cứng trong một khuôn thức cố định mà hết sức uyển chuyển, biến hóa phong phú.

     Sự biến hóa này tùy thuộc vào nhiều yếu tố trình diễn:

     +Yếu tố môi trường diễn xướng là quan trọng nhất: Hát vào các môi trường lao động khác nhau (sáu mái đồng bằng), hát trong các chặng lao động khác nhau (Hò lỉa trâu), hát trong môi trường giao lưu khác nhau…

     +Yếu tố sắc âm được ứng dụng của nghệ nhân: như yếu tố thổ âm các vùng, hoặc những kĩ thuật hoa mĩ (hát hất, hát đổ, hát nổ/nảy, hát hạ, hát chuốt/vuốt, hát lơi…)

     +Yếu tố vận dụng nhịp: phách nặng -. phách nhẹ, vững nhịp – đảo phách.

     +Yếu tố ngữ văn: mở rộng hay thu hẹp lời văn tạo nên cách hát dồn (một khổ song thất lục bát có 28 chữ có thể “nở” ra đến 160 chữ), hát rải (bớt câu hoặc bớt một bộ phận câu).

     +Yếu tố biểu đạt thẩm mỹ: trữ tình – tự sự, tục – thiêng, bi – hài…

……

     Chỉ với 5 yếu tố trên thôi, ta nhận ra, mỗi mái hò có thể có đến tối thiểu 5 kiểu thể hiện khác nhau. Nghệ nhân già dặn, nhiều kinh nhiệm, giàu năng khiếu có thể cho ta rất nhiều cảm xúc thẩm mỹ khi nghe họ hát.

     Tưởng như đơn giản nhưng hoàn toàn không đơn điệu một chút nào, đó là bản năng nghệ thuật của Hò khoan Lệ Thủy: một hệ thống thẩm mỹ đa dạng.

     Chưa kể, tự thân diễn xướng Hò khoan Lệ Thủy cổ truyền, tùy hoàn cảnh khác nhau, mục đích khác nhau, nội dung khác nhau… mà có thể tạo nên môt tổ hợp các mái. Ví dụ như diễn xướng hò Đưa linh-Chèo cạn, diễn xướng ca Bài chòi, diễn xướng đám cưới…. Các tổ hợp này nhanh chóng được các nghệ nhân trong thời hiện đại tiếp thu để sáng tác, trình diễn các đề tài rộng lớn hơn về chiến tranh, cách mạng, Tổ quốc, danh nhân…Sự kết hợp này, một lần nữa làm cho công năng nghệ thuật Hò khoan Lệ Thủy mạnh thêm về nội lực, phong phú về thẩm mỹ.

     Chính nội lực đó, khiến trong trường kỳ lịch sử, Hò khoan Lệ Thủy có thể tiếp thu giá trị nhiều nguồn dân ca khác nhau nhưng vẫn vững bền với phong cách riêng của mình. Chính nội lực đó khiến Hò khoan Lệ Thủy có tầm vóc chắc chắn mà không phải vùng hò nào cũng có được. Chính nội lực đó mà ta thấy cho đến nay, Hò khoan Lệ Thủy vẫn hướng đến tương lai và sẽ bảo tồn phát triển mạnh mẽ.

     Ngày 8 – 5 – 2017, Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch đã kí quyết định công nhận Hò khoan Lệ Thủy là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Dù là muộn màng và có chút thiệt thòi nhưng sự công nhận này đã đem lại niềm vui cho nhân dân Quảng Bình, nhân dân Lệ Thủy khi một sáng tạo tinh thần của mình được vinh danh giá trị.

     Điều này sẽ khuyến khích tất cả thấu hiểu hơn nữa, bảo tồn giá trị vững bền hơn nữa, phát huy, phát triển và quảng bá Hò khoan Lệ Thủy hơn nữa trong cuộc sống hiện đại.

Lệ Thủy 3-8-2017.

fShare
0
Top