VƯỢT CẠN LÀ GÌ?

Nguyễn Hùng Vĩ

     Vì đang loay hoay viết một màn nghệ thuật trình diễn về đua thuyền mà trong đầu chợt tóe ra một câu hỏi: vượt cạn là gì nhỉ? Tại sao người ta lại cứ nói là vượt cạn?

     Cái gì không biết thì tra google. Nhưng nó cùng lắm cũng chỉ cho biết: Vượt cạn – Động từ (Khẩu ngữ): Sinh con, về mặt khó nhọc của người mẹ lúc sinh đẻ.

     Từ điển tiếng Việt thông dụng (1995) không có hai chữ “vượt cạn”. Từ điển của nhóm Thanh Nghị (1952) cũng chỉ chú gọn lỏn: Vượt cạn – (Phụ nữ) sinh đẻ.

     Nhưng tại sao việc phụ nữ sinh đẻ mà dân gian ngày xưa lại cứ gọi là “vượt cạn”?

     Với phản xạ của người nghiên cứu thói quen ăn nói dân gian, tôi trộm nghĩ:

     Có thể nó bắt đầu từ kinh nghiệm đi thuyền của dân sông nước. Mắc cạn là một tình thế mệt nhọc. Có vô vàn lý do để con thuyền bị mắc cạn: sai lạch, sơ ý, ngủ quên nước triều rút…Đặc biệt thuyền chở nặng mà mắc cạn thì mệt nhọc vô cùng. Bởi vậy, sự mệt nhọc, nguy hiểm của việc sinh nở mà người phụ nữ, vốn sinh trên cạn, phải vượt qua được ví như việc đàn ông vượt (thuyền mắc) cạn vậy. Người ta nói “vượt cạn”. Chẳng đã có câu thành ngữ: “Đàn ông vượt sông có bạn/ Đàn bà vượt cạn một mình” là gì. Lại còn có câu ca dao:

          Đàn ông vượt cạn có đôi

     Đàn bà vượt cạn mồ côi một mình.

     Nhưng vẫn cứ tò mò, tôi đành lật từ điển cổ hơn xem cho kỹ thêm.

     Gắn với việc phụ nữ chửa đẻ, từ điển Đại Nam quấc âm tự vị của cụ Huình Tịnh Paulus Của (1895) hai lần chú nghĩa hai chữ CẠN ĐÌ ở các mục C và Đ.

     Mục C, cụ giải nghĩa: “Cạn đì. Chẹt nặng nơi đì. (Thường nói về đàn bà có thai)”.

     Mục Đ, cụ giải nghĩa: “Cạn đì. Mắc cản dưới đì. (Nói về đờn bà chửa gần ngày, bụng lớn trằn xuống khó đi)”.

     Vậy, ĐÌ là gì và CẠN ở đây hiểu như thế nào?

     Chữ ĐÌ, cụ Huình giải nghĩa: “n. Chỗ ở trên đầu vế, kế dạ dưới”.

     Tra thêm từ điển Việt – Bồ - La (bản chụp 1651) của giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) thì thấy cụ cũng giải nghĩa: ĐÌ (cái đì): Đì, kẽ háng.

     Thế là rõ, nó là cái chỗ nhạy cảm ấy các cụ ghi đến thế là hiểu.

     Còn CẠN thì trong tiếng Việt hiện đại được từ điển chú các nghĩa: 1. (Nước) vơi dần hoặc sắp khô.2. Hết dần, không còn mấy nữa.3. Nông, không sâu.4. Hời hợt, nông nổi…

     Tuy nhiên, trong cách nói dân gian, “vơi dần” cũng có nghĩa là “thấp dần” so với mức thường nhật, so với sào chống hoặc so với bờ bến. Khi nói: “Nước ngoài sông thấp lắm” thì cũng đồng nghĩa với “nước ngoài sông cạn lắm”. Vậy, trong ngữ dụng cổ xưa, “cạn” còn mang nét nghĩa “thấp xuống”. Ngữ liệu ai cũng hiểu khi ta nói: “Nước ao đang cạn dần”.

     Suy ra, trong cổ ngữ còn lưu lại ở từ điển cụ Huình Tịnh Paulus Của, hai chữ CẠN ĐÌ phải hiểu là bụng chửa thấp xuống đì mà cụ dùng chữ “trằn xuống” thật lý thú để giải nghĩa. Đây là cách nói gọn thường thấy trong khẩu ngữ (cạn xuống dưới đì => cạn đì).

     Từ khi mang thai đến thời kỳ sa bụng, người phụ nữ đã cảm thấy mệt mỏi. Đến khi “cạn đì” thời gian cuối là sắp đẻ thì lại càng mệt hơn.

     Bởi thế, khi đẻ, người ta nói là phải vượt qua khó khăn đó, đó là VƯỢT CẠN.

     Vậy tại sao người ta không dùng chữ ĐẺ, SINH CON mà lại dùng VƯỢT CẠN cho nhiêu khê. Về mặt văn hóa – ngôn ngữ, chúng ta nhận ra nó xuất phát từ cách nói né, nói kiêng ngày xưa trong trường hợp mà cái sự đó có thể gây ra tình thế nguy hiểm, thiệt hại hoặc bất lợi, ví như: cháy nhà => ướt nhà, đi tả => đi sông/đi xối, con chuột => chú chí, con hổ => ông ba mươi, (đứa trẻ) xinh lắm => (đứa trẻ đã) xấu chưa, có kinh nguyệt => thấy tháng, sấm sét => ông bập bập…Người xưa tin rằng, nói tránh như vậy thì tai họa sẽ không “theo miệng” mà xẩy ra. Sinh nở quả là một sự hiểm nguy, “người chửa cửa mả”. Ai đã sống cùng mẹ, cùng bà, những người sinh đầu thế kỷ XX, thì đều được “học ăn, học nói” như thế cả.

     Nếu không hiểu VƯỢT CẠN là như vậy, chúng ta đã phủ nhận hai chữ CẠN ĐÌ vốn được ghi nhận trong từ điển của tiền nhân cuối thế XIX.

     Vấn đề là, hai chữ “vượt cạn” này còn có thể được dùng như để hình dung tình cảnh vượt qua sự mắc cạn của thuyền bè (chúng tôi nói “có thể” vì chưa tìm thấy ngữ liệu với nghĩa này trong văn học nôm cổ xưa) cho nên người ta so sánh sự khó khăn sinh nở của người phụ nữ với sự nặng nhọc vượt qua việc tàu thuyền mắc cạn. Đây là nguyên nhân sự ra đời câu: “Đàn ông vượt cạn có đôi…” (theo trên mạng xã hội chứ chưa có ghi chép nào của các sưu tầm trước đây có ngữ liệu này).

     Còn chúng ta thấy phổ biến trong sách xưa là các câu:

     -Đàn ông vượt BỂ có chúng có bạn; đàn bà vượt cạn chỉ có một mình.

     -Đàn ông vượt BỂ có bạn; đàn bà vượt cạn một mình.

     -Đàn ông vượt BIỂN có chúng có bạn; đàn bà vượt cạn chỉ có một mình.

     -Đàn ông vượt TÀU có chúng có bạn; đàn bà vượt cạn một thân một mình.

     -Đàn ông vượt TÀU qua BỂ có chúng có bạn; đàn bà vượt cạn có một mình.

     -Liền ông vượt BỂ có chúng có bạn, liền bà vượt cạn có một mình.

     -Trai vượt BỂ có bạn, gái vượt cạn một mình.

     (Tất cả các ngữ liệu này đã được sưu tập và biên soạn vào trong bộ Kho tàng tục ngữ người Việt, GS Nguyễn Xuân Kính chủ biên, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2002, tập 1 và tập 2).

     Các câu này được hơn 10 tài liệu từ thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX ghi lại. Điều này cho phép ta nghi ngờ tính thông dụng của cụm từ “vượt cạn” dành cho đàn ông khi đẩy thuyền mắc cạn trong tiếng Việt ngày xưa. Trong sưu tập liên quan còn ghi lại được cho đến nay trên giấy trắng mực đen, với vế nghĩa gắn với “đàn ông” chỉ có vượt bể/biển/tàu mà thôi, không có vượt cạn.

     Điều này càng củng cố suy nghĩ về từ VƯỢT CẠN có mối liên hệ với từ CẠN ĐÌ trong tiếng Việt cổ dù hiện nay nó đã đi vào quá khứ và liệt vào loại từ cổ.

 

Hà Nội ngày 26/5/2019.

 

 

Top