Đọc tập thơ Những mảnh vỡ tiềm thức của Mã Giang Lân

fShare
0

Tập thơ Những mảnh vỡ tiềm thức([i]) gồm 40 bài được tác giả chọn từ năm giữa những năm 70 đến nay. Bài "xưa" nhất trong tập là Một vùng sông, làm năm 1975. Con số dễ nhớ: năm Giải phóng, đến nay đã 34 năm, hơn một phần ba thế kỉ. Một thế hệ đã lớn lên, trưởng thành.

Thơ là trải nghiệm sâu ở phần run rẩy nhất của thế giới tâm hồn con người, cái triết học trong thơ liên minh với tâm linh và giấc mộng. Đi hết tập thơ, ta đã đi hết một phần đời sống. Và hơn nữa: một đời người, do chiều sâu của những trải nghiệm.

Trong bài viết này tôi đi tìm hiểu việc thực hành thơ của Mã Giang Lân. Tìm hiểu: anh nói thế nào về sự kiện, cuộc sống, con người trong thơ? Và qua thơ, anh đã nói được những gì? Bài viết đi tìm cấu trúc ngôn ngữ và thời gian trong thơ anh.

*

1. Đời sống trong Thơ: Tên tập thơ mang tính văn chương này có lẽ là một chọn lựa có ý thức của tác giả trước cái không thể nắm bắt, cả ở khía cạnh vật chất: "Tôi nhận tôi là người lao động / dù cho vất vả nhọc nhằn / dù cho làm thơ, in thơ quả thật khó khăn / thì cuối cùng tôi vẫn còn tay trắng" (Tự sự). "Trắng tay" thì không còn gì, nhưng "tay trắng" thì chưa chắc. Tự sự ở đây là tâm sự. Tâm sự về đời, về nghề, dẫu thơ chỉ là nghề "yêu" bên cạnh "nghiệp" chính của anh là dạy học. Thơ anh mang dấu vết sư phạm ở sự chỉn chu, vuông vức trong tư tưởng, nhưng lại có không ít những tìm tòi, thể nghiệm về hình thức với nhiều xô lệch đáng kể về thể thơ, về câu thơ, về gieo vần,...  Đó là những lao động thơ để vật chất hóa tư tưởng, những trăn trở, những ý nghĩ lên trang giấy.

Nhìn tổng thể tập thơ: sau 7 bài đầu thể tự do, người đọc gặp luôn 6 bài bốn câu liền nhau (Sáng ở biển; Hoa nhãn; Vào mùa; Em đi; Gió; Gửi), sau đó lại là những bài thơ tự do, thơ văn xuôi bên cạnh 3 bài lục bát (Cuối ngày; Ngẫu hứng, chiều; Vô đề 4) ở nửa sau tập thơ như sự "sám hối" của đứa con "đi hoang" tìm đường trở về quê mẹ tự trong tiềm thức đang mơ màng thức ngủ ở hình thức ca dao, ở những điệu hát xưa. Bên cạnh đó là dấu vết "nhại" (pastiche) ở cả thể thơ và đề tài trong bài Trở về thôn Vĩ. Những "những mảnh vỡ" đó được lắp ghép công phu, xen kẽ các giọng khác nhau.

Trong Những mảnh vỡ tiềm thức, nhà thơ đã đưa các sự kiện con người, đời sống vào thơ: một kỉ niệm yêu, đám ma một nhà thơ, một người đồng nghiệp, một chiêm nghiệm về đời sống, một vài kỉ niệm ở phương trời xa và lạ,... Hành vi làm thơ là hiện tại: nhà thơ ngồi vào bàn và viết. Nhưng, những hình ảnh, những liên tưởng lại từ quá khứ hiện về. Quá khứ nằm trong hồn của chữ được "gói" trong xác chữ qua các dòng thơ. Nó thuộc về kí ức, về quá khứ.

Thơ là kí-ức-hiện-tại.

Lấy ví dụ một bài về kí ức chiến tranh: "Chiến tranh đã lùi xa mười năm, hai mươi năm rồi / vẫn giật thót mình / khi nghe tiếng nổ / từ đâu về / Ta chạy cuống cuồng ngã dập / Mồ hôi đêm dầm dề" (Ký ức). Bài thơ gọn phần do ngắn; phần khác, quan trọng hơn, do độ nén của "tiếng nổ": ẩn dụ của những gì khốc liệt, đau thương, tàn phá. Cái tứ "giật mình" hậu chiến này đâu đó ta đã nghe rồi. Nhưng ở đây, tư tưởng hình như có vẻ ít "lập trường" hơn, lại có vẻ "chiêu hồi" hơn: "chạy cuống cuồng" là trong mơ hay đời thực? Dù là trong đời hay trong mơ thì cũng vẫn đúng, bởi, chiến tranh dù ở phía nào cũng là điều bất thường của đời sống và không nên có. Nhìn chung, thơ Mã Giang Lân không phải loại thơ khiến ta giật mình về câu, chữ, về tứ lạ nếu đọc thoảng qua. Nó hiền hiền, dung dị. Nhưng, "Mồ hôi đêm dầm dề" là một lắp ghép siêu thực, là lao động dẫu vẫn biết rằng siêu thực coi trọng mộng mị, tự động tâm linh, thì ở đây là ý thức: "mồ hôi" của chủ thể trữ tình, và cả của đêm lại càng thơ - đêm vô tri cũng hãi sợ như người. Đó là cách nói thơ, hết lời mà còn ý.

Những bài thơ bắt đầu vào tập (Một miền Tổ quốc; Ba chiến sỹ và bản nhạc không lời; Lời chia tay) có nhiều dấu vết của chiến tranh vừa đi qua bên cạnh những chi tiết rải rác khác trong tập mang những suy nghĩ của nhà thơ về đất nước, Tổ quốc, đồng đội. Đó cũng là một phần đời sống, một phần nhịp thở trong thơ anh.

Có lẽ Mã Giang Lân hợp với "tạng" thơ thiên về cây cỏ, ruộng đồng, thiên nhiên hơn. Ở những bài thơ đó, giọng thơ anh đằm, nhẹ nhàng, các liên tưởng không phức tạp, bất ngờ mà thủ thỉ.

Ta thử phân tích "ngữ pháp" đoạn thơ văn xuôi: "1. Chiều xuống mau bên này dãy núi. 2. Cảnh vật sáng trong, tươi mới, gió sông thanh thản, nhẹ nhàng, tiếng máy nổ, tiếng máy cẩu, tiếng ca nô rẽ sóng sang ngang." (Một vùng sông): bắt đầu là thời gian muộn, tiếp đến những liệt kê về máy móc cho lao động, nhưng cảnh vật hoạt lên do các chuyển động, do âm thanh, sau hết và trên hết là do cái nhìn "sáng trong, tươi mới" của nhà thơ. Sau cảnh là tình, là cái nhìn vào cuộc sống lao động. Là văn xuôi, nhưng vẫn có vần: câu 1, mở bằng vần bằng, liên tiếp các vần bằng "mau bên này" như trùng xuống để cuối cùng là vần trắc vút lên "dãy núi" như chuẩn bị thông báo liệt kê ở câu sau; câu 2. mở ra là vần trắc, tiếp đó, vào giữa câu là âm "ang" ("nhàng") bắt vần với "sang ngang" ở cuối câu tạo ra độ vang, lan tỏa của câu thơ.

Một ví dụ khác về thiên nhiên, vẫn là thao tác sau cảnh đến tình: "Mía đã trổ hoa / ngô bồng con / như chờ đợi điều gì sẽ đến" (Trận địa): hai câu đầu là kể, câu thứ ba là gợi suy ngẫm. So sánh "như" ở đây không dành nhiều cho "ngô" dù là hình ảnh thơ. Hai câu: "Tiếng ong cần mẫn thơm vị mật / Cái nắng đầu mùa nắng ngọt lây" (Hoa nhãn) thì "ngọt lây" là liên tưởng thú vị do nằm trong cùng trường ngữ nghĩa với "vị mật" bên trên. Ở đây, thị giác đã gánh trách nhiệm cho vị giác. Hoặc: "Lúa chín, hương thơm cũng chín dần" (Vào mùa) thì đã ngấp nghé siêu thực: hương thơm từ khíu giác chuyển sang thị giác mang màu lúa. Hay "mây lang thang không chút giữ gìn" (Nhớ Đồng Văn) thì nghịch ngầm, mặc dù vẫn còn chút "giữ gìn" phải đạo.

Trường từ vựng cùng nhóm về thiên nhiên cây cỏ: bờ lau già, bãi cỏ, ngọn sim, hoa bạc hà tím nhạt, ngô, hoa trẩu, gốc cau, cây gạo đầu làng, cây dừa, gốc lúa, ngô mía xanh rì, cây cỏ tươi xanh, hoa chuối đỏ, hoa trắng bồng bềnh mây,.. khá nhiều. Hệ biến hóa hay còn gọi là hệ dọc của nhóm từ vựng về cây cỏ trong tập thơ thật dồi dào, phong phú, có màu sắc và nhiều chủng loại. Cùng đi với chúng là trường từ vựng về nơi chốn với những: ngả lưng trên bãi cỏ, những triền núi, những mảnh vườn, những ngọn đồi, những bản làng, ngoại ô vắng, lắm đồi lắm núi, đất đỏ tươi như nét môi cười, xóm nhỏ, ruộng đồng,... cùng với rất nhiều địa danh theo dọc chiều dài đất nước. Và khi nói "Ngoại ô núi, ngoại ô rừng, ngoại ô gió" thì đã "lạc" sang cách nói thơ và nói được nhiều hơn số chữ.

Từ trường từ vựng dẫn đến trường ngữ nghĩa: phong cảnh - nơi chốn - động thái - tình cảm: từ bên ngoài dẫn vào bên trong thế giới thơ, thế giới tư tưởng, tình cảm của nhà thơ một thứ ánh sáng nhẹ, dịu, như một cơn gió thoảng mà ân tình. Đương nhiên, khi điều gì được nhắc đến nhiều, với tần suất lớn trong sáng tạo nghệ thuật (có thể người nghệ sĩ không ý thức) thì đều chỉ ra vô thức của anh ta, đó là "những mảnh vỡ tiềm thức" rải rác trong thơ Mã Giang Lân về quê hương, đời sống, về con người, trên hết là về nghĩa tình với quê hương, xứ sở.


2. Thời gian kí ức, kỉ niệm xuất hiện nhiều trong tập thơ: "Suốt một đời tôi chẳng thể nào quên / những bờ lau già, những mô đất xám" (Một miền Tổ quốc); "Và chiều chiều / vẫn nghe thì thầm tiếng sóng / như tiếng gió lùa qua miệng súng" hoặc "Trận địa như đại bàng / xòe cánh bên bờ sông rộng / đã mười mấy năm đại bàng bay đi" (Trận địa); cả về thời gian tương lai, chuyển động: "Ngày mai, ngày mai nhà cửa mọc lên thôi / Ở nơi ấy đất đỏ tươi như nét môi cười" (Lời chia tay); "Mấy ngày đi, mấy ngày tìm, mấy ngày nhớ / chỉ đem về đêm rét Đồng Văn" (Nhớ Đồng Văn); hay chiêm nghiệm, nếm trải: "Một đời đứng đã quá trưa / Ngửa tay tính đốt chỉ vừa bàn tay" (Vô đề 4);... Đó là những quá khứ giằng níu và tương lai còn đang là hi vọng; đứng giữa hai đầu đó, là một con người, một chủ thể "Ngửa tay tính đốt..." trong hiện tại.

Dễ dàng nhận thấy, các bài càng về cuối tập, càng có độ sâu về suy tưởng, triết lí và cũng khá buồn (Vô đề 1; Vô đề 7; Cánh đồng làng; Sau bão; Thăm cụ Nguyễn Du,...). Tôi thích những câu nghịch lí chiêm nghiệm mà hình như Mã Giang Lân hay tìm tòi, thể nghiệm, tuy không phải luôn thành công: "em như mưa bão / cho yên tĩnh lòng ta" (Mưa báo bão) khó hiểu, nhưng hay vì không thuận tai: đó lại chính là nghịch lí của tình yêu - em không mưa bão thì anh mới đau lòng (xin lỗi, vì đã sa vào "diễn nôm" thơ); hoặc: "Đất nước lắm vua / Thần dân chết mất" (Vào Đại Nội) thì bạo, nhưng có lẽ nó cũng liên văn bản xa xôi với cái tự ngàn xưa: "Một nhà hai chủ không hòa, / Hai vua một nước ắt là không yên". Câu của Mã Giang Lân có hơi hướng lịch đại nhiều hơn, buồn hơn tính chất đồng đại, cụ thể của dân gian. Chỗ khác: "Đi giữa phố đông / Không gặp một người / Ở giữa mọi người / Không gặp một người" (Vô đề 1); hoặc "Trời đất nóng dần lên / Người ơi! Sao lạnh thế!" (Những nghịch lý); hoặc ta phải bật cười "Đi hết biển đến chân trời / Sống hết mình rồi sống ở đâu?" (Nhật ký) vì giọng nghịch ngầm đáo để: khẩu hiệu đã từng nằm sâu trong ý thức đã bị ngắt mảnh đặt lại vấn đề bằng một nghi vấn. Nhưng nghi vấn ở đây cao hơn lợi ích của cá nhân cụ thể, nó mang tầm triết lí về tồn tại.

Nhưng, những nghịch lí trong thơ cần phải rất cảnh giác: phải có "chống chỉ định", quá liều là sẽ bước sang "nghĩ thơ". Mà "nghĩ thơ" thì rất dễ ít thơ, hoặc không thơ. Đành rằng, làm gì cũng phải nghĩ; nhưng với thơ, xúc động phải trước nghĩ.

Bài Thăm cụ Nguyễn Du là một bài hay trong tập. Thời gian đọng lại qua mỗi dòng thơ. Có những liệt kê: "nước mắt thành cát"; "xương cốt thành gò"; "nhanh cháy... mênh mông khói"; "lời khấn... sa mạc người"; "chúng tôi chừng năm sáu thập loại chúng sinh" và hai câu kết tuyệt bút, dựng lại cả một Truyện Kiều, một thời đại xưa mà chưa chắc đã hẳn thời đại xưa:


Gió chiều dựng những chiếc lá vàng

đuổi nhau chạy

Vạt cỏ mới trồng mang dáng Đạm Tiên

Nó khiến ta rùng mình qua các động từ hoạt động: "dựng"; "đuổi nhau"; "mới trồng". Không có bóng người, nó hoang vắng. Những liệt kê ở cõi dương mà lại hướng về cõi âm nên đã chuẩn bị cho cái kết liêu trai tất yếu.

Thời gian trong thơ Mã Giang Lân không chỉ hiển ngôn ở những: "suốt một đời"; "bao năm rồi"; "về lại những ngày qua"; "ngày nào"; "ngày mai"; "hôm nay"; "bốn mùa"; "sáng sớm"; "nắng lên"; "chiều xuống"; "Noël"; "một ngày";.... mà còn ở những lặp lại (répétion) để trỏ hành động xảy ra nhiều lần: "tôi đã ngả lưng"; "tôi đã đi"; cùng những xảy lặp (itératif), nói một lần cái điều xảy ra nhiều lần: "tiếng chim hót / nghìn năm vẫn thế"; "gió đã từng qua"; "Và chiều chiều / vẫn nghe thì thầm tiếng sóng"; hoặc ẩn dụ "Một đời đứng đã quá trưa"; "Mưa suốt một đời / giờ còn nức nở"; hoặc đa nghĩa "Thời tiết khá hơn / sâu mọt bớt sinh sôi / cây cối một thời oằn lưng / dưới mưa tuôn, nắng hạ";... nghĩa là một sự đa dạng về thời gian cũng là ngẫm nghĩ về cuộc đời, về thế thái nhân tình.

Thỉnh thoảng, ta gặp những câu thơ hay mang thời gian tính tinh tế, phát hiện: "Nắng đang chiều lá mục bay hơi" (Lời chia tay), nó thoảng qua, dịu dàng pha vẻ tiếc nuối thầm. Câu này và một số câu khác trong tập thơ đã minh chứng cho cái điều: thơ không nói gì cả mà lại nói được rất nhiều.


3. Lời cuối: Những điều được viết trong thơ Những mảnh vỡ tiềm thức, tựu trung lại không ra ngoài lẽ nhân sinh, nhưng nổi lên là hình ảnh quê hương, đồng đội, cả tình yêu đôi lứa, là thời gian chảy trôi và đau khổ. Tuy nhiên, đôi chỗ thơ anh lại rơi vào "nghĩ thơ", "kể thơ" mà minh chứng cho điều đó là trong tập thơ không có nhiều ẩn dụ, hoán dụ - cái làm nên bài thơ hay.

Ai đã làm thơ thì đều hiểu những nỗi niềm. Thơ cần tri âm, cần cộng hưởng tâm tình. Mỗi bài thơ ra đời đều là lao động, xúc cảm, suy tư,...  Thơ Những mảnh vỡ tiềm thức đôn hậu, lặng thầm. Một hồn thơ vừa ngoái lại, vừa bước đi, hội nhập và gìn giữ, đáng trân trọng.


Hà nội, tháng 10 - 12 năm 2009

Đào Duy Hiệp


([i]) Mã Giang Lân, Những mảnh vỡ tiềm thức, Nxb. Hội nhà văn, 2009.


fShare
0
Top