Ngôn từ và hình ảnh trong tập thơ "Và đột nhiên gió thổi" của Mai Văn Phấn

Mỗi bài thơ là một lâu đài ngôn từ “bí mật”, mỗi tập thơ của một nhà thơ là cấu trúc lớn ngân vang những “bí mật” trong hành trình khám phá thế giới, cuộc đời, tình yêu. Mọi bài thơ tình, như Jacobson bảo, chỉ có một nội dung: “Anh yêu em”. Nhưng “ngữ pháp” tiếng lòng của nhà thơ không giống nhau nên đã tạo ra những “bí mật” khác nhau về cùng nội dung đó. Đọc xong tuyển tập các bài thơ tình tuyệt mĩ của các nhà thơ thế giới, liệu ta có thể khám phá ra hết những bí ẩn của Tình yêu? Cái “bất khả tri” trước tình yêu, là lí do tồn tại của tình yêu. Và bởi vậy, của thơ. Tập thơ tình Và đột nhiên gió thổi(1) của Mai Văn Phấn gồm 27 bài mang đến ngọn gió mơ hồ về tồn tại đó. Tôi nghiên cứu ở hai cấp độ: 1. ngôn từ thơ; 2. hình ảnh thơ siêu thực.

1. Ai cũng biết làm thơ là nói cái rung động của tâm hồn mình bằng ngôn từ đẹp, hay mà thật. Ngay cả cái đẹp “hoang dại”: một bông hoa mong manh bên dòng suối, một tia nắng muộn trên phiến đá rêu phong, một tiếng còi tàu trong đêm khuya vắng,... vẫn đẹp, nếu chúng được viết không dở, bằng ngôn ngữ của chính nhà thơ. (Vương quốc của thơ chỉ tôn vinh người đẹp chưa qua giải phẫu thẩm mĩ. Mọi sự “be bờ đắp đập” (đạo văn) ở đây đều không được chấp nhận). Lí thuyết liên văn bản cho biết mọi văn bản nghệ thuật ngôn từ đều đã có một văn bản được viết ra từ trước đó. Nguyễn Du đã viết “đè” một cô Kiều Việt lục bát lên một cô Kiều Tàu văn xuôi bằng ngôn ngữ của riêng ông.

Nhưng khi nhà thơ viết đè một “phương ngữ” của cá nhân lên bản ngữ của cộng đồng thì anh ta đã lấy ngôn ngữ làm đối tượng thẩm mĩ. Ngôn từ thơ, như đã biết, cho những nghĩa “tự sinh” trong quá trình đọc. Nếu từ ngữ theo nghĩa từ điển là “vuông”, vuông thành sắc cạnh, không có nét nghĩa dư thừa (“trăng” là trăng, “mưa” là mưa,…); thì trong thơ, chúng là “tròn”, “gói” trong nó nghĩa vuông nghĩa từ điển. Phần tròn bao ngoài là nét nghĩa dư thừa, “đục mờ” được phát sinh do cộng hưởng từ trường từ vựng, âm hưởng, giọng điệu, tiết tấu,… của bài thơ. Lấy ví dụ về động từ “mở” trong tập thơ này của Mai Văn Phấn (tôi gạch chân):

“Giọng em …, mở thông những cánh cửa….” (Nghe em qua điện thoại): “Giọng em” là âm thanh làm “mở” không gian; mà nghĩa “vuông” thông thường không làm được.

“Mỗi cơ thể con người mở ra nhiều con mắt lạ,…. Nhắm mắt thấy em không rộn ràng như khi mở mắt” (Nhắm mắt): thì “mở” câu trên là khai thông thị giác tâm linh; còn “mở” câu sau “vuông” nghĩa.

“Tờ lịch trên tường đang tự mở sang ngày” / “Bát canh nóng mở cửa phòng chật hẹp” (Mưa trong đất): “tự mở sang ngày”: hành động “tự mở” trỏ sự trôi chảy khách quan, vô tình của thời gian; còn ở câu sau là tác động của cái thường ngày, cụ thể, hướng ra thế giới.

“Miệng em hé lộ khu vườn yên tĩnh.” (Mưa trong đất): cho hình ảnh lạ, siêu thực, theo nguyên lí đặt cạnh nhau những vật thể xa nhau làm bật ra một thực tại mới, thường gây sửng sốt: “miệng em” = “khu vườn yên tĩnh”. Hình ảnh đẹp mà hữu lí trong chiều sâu xa của dục tính, bản năng. Giống câu: “Môi em mở những đồng cỏ xa xưa mướt xanh trong cơn mưa buổi sớm, nối liền bầu trời với mặt đất rộng.” hoặc “Trán em mở cánh đồng hoa vàng bất tận.”.

Mở sổ ghi những việc cần làm” /(…) “Lời vô nghĩa mở ra tưởng tượng” (Anh anh em em) thì “mở” ở câu đầu “vuông”; câu sau là sự mơ hồ của ngôn ngữ và của thơ.

Đặc biệt, trong bài Những bông hoa mùa thu, số lượng từ “mở” khá đông đúc... Ta nhận thấy đa số “mở” ở đây đã không còn mang nghĩa thường ngày nữa. Các động từ “mở” chủ động chỉ sự chủ động như quan niệm của chính nhà thơ: “Ta khai mở, tôn vinh nhau. Thành ngọn nến, nước sạch. Thành hoa tươi, hương thơm tế lễ tổ tông.” (Mưa trong đất).

Trong giới hạn một bài viết ngắn không thể đi quá sâu vào ngôn từ thơ. (Tiện thể, các từ “mưa”, “nước” - một trong những nguyên tố tạo lập nên vũ trụ - cũng xuất hiện khá dày đặc trong tập thơ - đặc trưng “âm tính” trong thơ anh mà ở đây chưa có điều kiện phân tích). Mai Văn Phấn “tuyên ngôn” thơ: “Không, ta vẫn còn giọng nói. Mỗi âm tiết lúc ấy hiện lên một sự thật. Sự thật hiển nhiên đảo lộn mọi quy ước phổ thông.” (Anh anh em em...). Sáng tạo ngôn từ gắn với sáng tạo hình ảnh thơ để làm “đảo lộn mọi quy ước phổ thông.”, tức là bẻ gãy thói quen quán tính trong cách nhìn và cách nghĩ về sự vật.

2. Dấu vết siêu thực từ những năm 20 của thế kỉ trước và thơ tân-trữ tình thuộc về thường nhật (néo-lyrisme quotidien): thơ văn xuôi mà ở đó nhà thơ lắng lại, ẩn mình vào trong lạc thú của cái đời thường, hằng ngày để nói lên những suy tư triết lí về cuộc sống vừa trần trụi vừa ảo mộng đã hiện diện trong tập thơ này.

Thử  tìm hiểu một vài hình ảnh: “Anh nghe em nhờ rễ sâu mở những vỉa tầng linh thiêng trong đất ấm, con sông chảy vào quang gánh, làng mạc phồn sinh tháp dựng, cánh đồng tươi tốt trên xe cộ...” (Nghe em qua điện thoại). Do sự câu thúc của “rễ sâu” mà bật ra phần đất đai linh thiêng ở vế sau; nhưng “rễ sâu” cũng gợi hình ảnh sợi dây điện thoại do tên bài thơ gợi ra, cũng như tình cảm “sâu rễ” (có thể) rối rít của hai người yêu nhau. Câu thơ đã “mở” ra nhiều chiều tâm tư, suy tưởng. Câu: “con sông chảy vào quang gánh, làng mạc phồn sinh tháp dựng, cánh đồng tươi tốt trên xe cộ...” có ba vế ứng với ba không gian “con sông”, “làng mạc”, “cánh đồng”. Nhưng cả ba “vật thể” trên đều “quái gở” xét theo logic thông thường. Đứng trước “con sông chảy vào quang gánh” ta thấy lạ mà buồn, có cái gì đó hưu quạnh; đến “làng mạc phồn sinh tháp dựng” đã tấp nập, sang “cánh đồng tươi tốt trên xe cộ…” thì hình ảnh “ngược ngạo”, “quái đản”. Biểu tượng “cánh đồng” ở đây (không rõ có xa với chủ định sáng tạo của nhà thơ không?) khiến người đọc liên hệ đến ẩn dụ về sản vật, sự thu hoạch, vui tươi đã được diễn đạt bằng hình ảnh thơ, đẹp, lạ, và có chiều sâu.

Thơ, như Octavio Paz nói, là nghệ thuật của thời gian. Nhưng, cũng là nghệ thuật của không gian, trong đó có không gian văn hóa, không gian tâm linh, kinh nghiệm, không gian trải nghiệm của nhà thơ.

Một hình ảnh khác: “Vệt môi anh là con chim gõ kiến trên cây cổ thụ. Chiếc mỏ tí hon làm cây rừng thay lá, thân gỗ mục hồi sinh. Những tán xanh trùm lấp, rì rầm, vươn thẳng. Nhắm mắt anh nghe trong thân cây biết mặt trời đã mọc, những sóng từ phát sinh cơn địa chấn, và ngôi sao lơ đãng đổi ngôi. Thời tiết bốn mùa làm phồn sinh bản năng loài chim gõ kiến. Ngước lên cao. Lại cúi xuống thân cây thành tâm tụng niệm /: Tạ ơn mưa nguồn, chớp sáng, mây qua... / Tạ ơn sương sớm, đất đai, đêm tối... ” (Mưa trong đất). Cấu trúc nhịp điệu và hình ảnh dẫn từ thấp lên cao dần đến “mặt trời đã mọc”, “ngôi sao lơ đãng đổi ngôi”, sau đó lại trở về với mặt đất và được cấu trúc một cách có ý thức, thiên nhiên tươi sáng đan xen lời in nghiêng như kinh cầu nguyện.

Hình ảnh siêu thực về “em”: “Làm vòm cây tái tạo nên anh / Tóc em bóng râm cội rễ / Thân cây cao vút thẳng đứng / muốn bứt lên / trong chênh lệch những miền áp thấp / trong lay giật / muốn bứt lên trong hơi nóng cơ thể / đẩy từ lòng đất / từ cốt tủy ngủ sâu tụ khí /  phù trợ những sinh linh / Gạn từ em / được chiết từ em / anh hiện hữu / và không hiện hữu.” (Anh anh em em). “Tóc em bóng râm cội rễ” đã lạ nhưng chưa ám ảnh, bắt đầu từ câu sau nó trở đi cho đến cuối đoạn là ám ảnh tính dục, hiện sinh, giật khục, “lay giật”, là sự sống được nói bằng thơ ở phần sâu xa nhất: Adam được sinh ra thêm một lần sau Chúa.

Những hình ảnh khác cũng “vô lí” như thế: “Anh lặng yên nghe ngực mình / Rộng mở… / Thành quả chuông run lên trong mưa / Gặp đèn trời khói bay, gió lạnh” (Khai bút cùng cỏ); “Muôn pháp là một, một đi về đâu. Ẩn hiện không gian một chiếc bình lớn. Ai đang về giữa hạt sương trong. Tiếng sấm sâu hút. Cánh hoa mong manh vươn tự do…” (Mưa trong đất); “Những ngôi sao đen trong lòng chảo ngực / anh rối bời nổ lách tách” (Những tiếng nổ nhỏ); hoặc “Gần em nghe trăng lên / ngồi trong quả chuông ánh sáng” (Những bông hoa mùa thu), v.v.

3. Lời kết: Với thơ, không thể coi cách tiếp cận nào là độc sáng, triệt để. Bài viết mới chỉ tiếp cận bước đầu về ngôn từ và hình ảnh thơ Mai Văn Phấn. Ngôn từ thơ anh lặng lẽ mà quẫy cựa, nhiều khám phá với tâm tình đôn hậu, lắng sâu. Hình ảnh lạ, đẹp qua lao động ngôn từ đó đã xuất hiện. Trong cấu trúc, những hình ảnh trong thơ anh thường chồng chất, xâm lấn, “đột kích” lẫn nhau giữa những không gian và thời gian.

Thơ là  tiếng nói của Vô cùng. Càng ngày tôi càng thấy thơ có sức mang chứa ý nghĩa triết học thâm thúy nhất về Đời sống, Tình yêu, Con người, về Lao động và Yêu thương.

Cả về nỗi Cô đơn buồn bã và thẳm sâu trong mỗi chúng ta.

Hànội, tháng 9 – 12 năm 2009

Đào Duy Hiệp

(Đã đăng Văn nghệ, 16/01/2010)

Top