Bài thơ "Cẩm sắt" của Lý Thương Ẩn và tiếng đàn ở cuối "Truyện Kiều" của Nguyễn Du

 

Tìm hiểu quá trình giao lưu giữa văn học Trung Quốc và văn học Việt Nam đang là vấn đề quan tâm của giới nghiên cứu và giảng dạy văn học nước ta. Nhằm tiếp tục cho định hướng tiếp cận của mình, trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến sự giao lưu và tiếp biến văn học qua sự đồng điệu, tri âm giữa Nguyễn Du (1765-1820), thi nhân của dân tộc ta và Lý Thương Ẩn (812-858?), nhà thơ Trung Quốc thời Vãn Đường. Trong khi chưa mô tả cụ thể cả một quá trình, chúng tôi nghĩ, lựa chọn những điểm tiêu biểu qua các cứ liệu thực chứng để từng bước lý giải vấn đề nêu trên là công việc cần thiết, phù hợp với điều kiện hiện tại.

 

1. Từ bài thơ Cẩm sắt của Lý Thương Ẩn đời Đường...

Nói đến Lý Thương Ẩn, người ta nhớ ngay đến những bài thơ Vô đề đầy huyền bí của ông. Cẩm sắt mặc dù không mang nhan đề đó, song về kiểu loại lại có những điểm tương đồng. Cẩm sắt được tiếp nhận rộng rãi trong văn học các nước thuộc khu vực đồng văn ở Đông Á và tạo nên những cuộc tranh luận liên tục không dứt cả ở Trung Quốc và nước ngoài. Đối với tác gia văn học Việt Nam, Cẩm sắt đã trở thành thi liệu được tiếp nhận và tái tạo sử dụng. Đáng chú ý hơn cả là trường hợp của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Đó chính là những lý do thôi thúc chúng tôi đi sâu tìm hiểu tác phẩm này.

Để tiện cho độc giả cùng chúng tôi “đọc kỹ” bài thơ, xin giới thiệu văn bản tác phẩm với phần nguyên văn chữ Hán và phần phiên âm Hán - Việt; đồng thời cũng xin giới thiệu phần chú giải trên cơ sở “tập chú” có lựa chọn từ các nguồn tư liệu của học giả Trung Quốc.

Nguyên văn chữ Hán([1]) Phiên âm Hán Việt: 

锦 瑟 无 端 五 十 弦  , 一 弦 一 柱 思 华 年。 庄 生 晓 梦 迷 蝴 蝶 , 望  帝  春  心  托  杜  鵑。 沧  海  月  明  珠  有  泪  , 蓝  田  日  暖  玉  生  烟。 此  情  可  待  成  追  忆  , 只  是  当  时  已  惘  然。

Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền(1), nhất huyền nhất trụ tư hoa niên(2). Trang Sinh hiểu mộng mê hồ điệp(3), Vọng Đế xuân tâm thác đỗ quyên(4). Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ, Lam Điền nhật noãn ngọc sinh yên(5). Thử tình khả đãi thành truy ức, chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên.

Chú giải:

(1) Cẩm sắt: tên một loại đàn. Sách Chu lễ nhạc khí đồ viết, đàn trang sức bằng ngọc quý gọi là “bảo sắt”, đàn vẽ hoa văn đẹp như gấm gọi là “cẩm sắt”. Ngũ thập huyền: 50 dây. Thực ra, số dây của loại đàn sắt này được ghi chép trong thư tịch là không thống nhất. Thiên Giao tự ký sách Hán thư ghi rằng: “Vua Tần sai tố nữ gảy đàn sắt 50 dây, buồn không chịu nổi, vì thế mới phá đàn này làm thành đàn 25 dây.” Sách Thông điển cũng chép: “Hoàng đế sai tố nữ gảy đàn sắt, buồn quá mới phá làm thành đàn 25 dây.” (Dẫn theo cuốn Đường thi tam bách thủ toàn dịch - Sa Linh Na dịch thơ, Hà Niên chú thích..., Quý Châu Nhân dân Xuất bản xã, 1997, tr.390). 

(2) Hoa niên: chỉ thời thanh xuân, tuổi trẻ.

(3) Trang Sinh: tức Trang Chu. Sách Trang Tử - thiên Tề vật luận chép, xưa Trang Chu nằm ngủ, mơ hóa thành con bướm, an nhiên tự do tự tại vỗ cánh bay rất thích chí; khi tỉnh, không biết mình mơ hóa thành bướm hay bướm hóa thành mình.

(4) Vọng Đế: tên ông vua nước Thục trong truyền thuyết. Theo sách Tam thập châu chí, Đỗ Vũ xưng đế ở đất Thục, hiệu là Vọng Đế, sai Miết Lãnh đục núi Vu Sơn trị thủy thành công. Vọng Đế tự cho mình đức bạc, bèn ủy thác chính sự và nhường nước (!?) cho Miết Lãnh. Còn bản thân thì chết, hóa thành chim tử quy (tức chim đỗ quyên, hoặc đỗ vũ). Thiên Thục chí sách Hoa Dương quốc chí lại chép rằng: “Sau khi nhường ngôi cho Khai Minh, Thục Đế bèn lên núi Tây Sơn ẩn cư.”

(5) Lam Điền: tên núi, còn gọi là Ngọc Sơn, nay thuộc huyện Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây, là nơi nổi tiếng về ngọc đẹp.

Có thể nói, cho đến nay đã có vô số các cách diễn dịch khác nhau về bài thơ Cẩm sắt. Các học giả Trung Quốc chủ yếu quan tâm cắt nghĩa bài thơ trên phương diện nội dung trong mối liên quan với cuộc đời tác giả; chẳng hạn có thể liệt kê ra 5 cách hiểu khác nhau về bài thơ Cẩm sắt như sau: (1) Thơ vịnh vật (đề vịnh về một cây đàn); (2) Thơ ái tình (hồi ức của tác giả về cuộc tình với một cung tần); (3) Thơ điệu vong (tác giả thương khóc người vợ họ Vương); (4) Thi tập tự (lời đề tựa cho một tập thơ); (5) Thơ truy ức (hồi tưởng quá khứ)([2]). Tuy nhiên, do chưa thể hiện đầy đủ ý thức về tính chỉnh thể của văn bản tác phẩm, cho nên đã không đánh giá được hết vị trí và tầm vóc vốn có của bài thơ trong lịch sử văn học. Chúng tôi thấy cần phải đọc lại bài thơ này để qua đó thức nhận về lịch trình và đặc điểm của thi ca cổ điển Trung Quốc, đồng thời tạo lập tiền đề để cắt nghĩa đoạn thơ “Thúy Kiều gảy đàn” nằm ở gần cuối Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Trước khi đi vào kết cấu bên trong của văn bản tác phẩm, đầu tiên, chúng tôi muốn ngược trở lại đôi chút với vấn đề “nguyên - lưu” của dòng sông thi ca Trung Quốc. Có thể nói, thi ca cổ điển Trung Quốc, đến Lý Thương Ẩn, đã có những biến đổi sâu sắc trên nhiều phương diện. Ngay trước ông, các bài thơ của một số tác gia thời Thịnh Đường như Tân Di ổ (Vương Duy), Xuân hiểu (Mạnh Hạo Nhiên), Vọng Lư Sơn bộc bố (Lý Bạch), Thu hứng bát thủ (Đỗ Phủ), Hoàng Hạc lâu (Thôi Hạo), Đề đô thành nam trang (Thôi Hộ), Phong Kiều dạ bạc (Trương Kế), Trừ Châu Tây Giản (Vi ứng Vật) v.v, đã đạt trình độ nghệ thuật rất cao. Không phải ngẫu nhiên mà nhà thi học đời Đường là Ân Phan, trong cuốn Hà Nhạc anh linh tập, cũng như nhiều nhà phê bình văn học các đời sau đó đã dùng khái niệm “hứng tượng”([3]) để khẳng định điều đó. Có thể nói, ngay ở thời điểm ấy, thành tựu vang dội của một thời đại hưng thịnh về thi ca, cũng như dấu ấn sáng tạo không thể phai mờ của các thi nhân đầy tài năng đã khiến thi ca có được vị thế xứng đáng, thoát khỏi thân phận là phương tiện truyền bá tư tưởng - đạo đức hoặc bị coi đơn thuần chỉ là dấu tích của một biến cố cuộc đời hay chứng thực cho một sự kiện lịch sử nào đó.

Tiếp theo, chúng tôi muốn nói tới sự ảnh hưởng lâu dài của các trào lưu tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng văn nghệ của Đạo gia, Phật gia, cũng như sự tác động sâu sắc của thi học từ Hán Ngụy - Lục triều đến đời Đường mà chúng tôi không có điều kiện trình bày cụ thể ở đây. Những tác động tích cực đó đã thực sự tạo nên cuộc cách mạng trong tư duy thẩm mỹ của cả người trước tác và người tiếp nhận. Cẩm sắt của Lý Thương Ẩn thời kỳ Vãn Đường, xét trong mạch vận động nội tại của văn hóa và văn học cổ điển của Trung Quốc, xứng đáng thuộc về những kiệt tác, bởi nó chính là một trong những cột mốc lớn đánh dấu chặng đường phát triển của loại thi ca có trình độ nghệ thuật cao. Cùng với Cẩm sắt và thơ vô đề, Lý Thương Ẩn đã cho ta thấy, ở ông xuất hiện những phẩm chất của một thi nhân - nghệ sĩ. Cách cảm nhận về cuộc đời, cũng như sự điêu luyện về nghệ thuật thơ ca của Lý Thương Ẩn, khiến chúng ta khi đọc thơ ông, không thể nhìn nhận một cách đơn giản như trước được nữa. Chúng tôi nghĩ rằng, đã đến lúc cần phải mạnh dạn đưa ra cách đọc của mình về bài thơ này.

Thứ nhất, chúng tôi khảo sát bài thơ từ phương diện thể tài. Nhan đề của bài thơ cho chúng ta biết, đây là bài thơ vịnh vật, bởi nó hoàn toàn phù hợp với tiêu chí nhận diện kiểu loại thơ vịnh vật về mặt hình thức (thơ vịnh vật thường đặt nhan đề bằng tên gọi của sự vật). Chỉ có điều, khác với thơ vịnh vật trước đó, đến Cẩm sắt, Lý Thương Ẩn đã có những cách tân, làm thay đổi mô thức truyền thống của tiểu loại thơ này. Ông vẫn mô tả sự vật, nhưng sự quan chú đã hướng tới cái đích khác hẳn thơ vịnh vật truyền thống (vốn chủ yếu là ngôn chí) - đích đó là “tư hoa niên” và “truy ức”. Thi nhân đã không còn đơn thuần đi tìm những quy ước tượng trưng về tài năng, phẩm đức giống như những bài đề vịnh trước đó về tùng, cúc, trúc, mai; ông đã dùng “cẩm sắt” làm vật khởi hứng và đem cái “tình” của mình hòa trộn vào những tiếng đàn được mô tả ở liên thơ thứ hai và thứ ba, biến Cẩm sắt thành bài thơ nghiêng về bộc lộ suy tư và xúc cảm. Với đặc điểm đó, Cẩm sắt về thể tài, đã đi chệch khỏi quy phạm của thơ vịnh vật chính thể, chuyển từ “tả chí” sang “thể tình”; đó là một trong những lý do có ý kiến cho Cẩm sắt không phải là thơ vịnh vật([4]).

Cẩm sắt là bài thơ dùng cây đàn để gợi hứng, do vậy, chúng tôi không thể không tìm hiểu xem, Lý Thương Ẩn đã mô tả nó như thế nào? Có thể nói, cây đàn kia dù có là “cẩm sắt” đi nữa, nhưng nếu chỉ được tác giả tả thực, thì chẳng qua cũng chỉ là vật vô hồn, bài thơ khác gì một đề mục trong cuốn sách loại chí mô tả về sản vật. Vì lẽ ấy, khi đọc bài thơ này, chúng tôi đã chú ý ngay tới hình dáng hoa văn bề ngoài gắn cây đàn với một truyền thuyết nào đó mang đậm tính chất “kỳ bí” về một báu vật; sau đó là con số năm mươi - chỉ số dây đàn vừa gợi vừa nhấn mạnh đến nỗi buồn mà phần Chú giải đã mô tả là “không sao chịu nổi”. Những đặc điểm kỳ lạ đó gợi trí tưởng tượng và sự tò mò đối với người đọc; đặc biệt hơn, những chi tiết ấy đã được thi nhân đặt trong mối liên hệ với cuộc đời mình, hòa quyện nó vào dòng hồi ức và suy tư của mình. Chính từ cách mô tả “lạ hóa” ấy, thi nhân đã khiến độc giả, một cách rất tự nhiên, bị cuốn hút vào dòng suy tư của chủ thể trữ tình ở liên thơ thứ hai và thứ ba; qua đó, được cảm nhận thế giới tâm trạng phong phú của chủ thể trữ tình qua thanh âm phức điệu của những tiếng đàn mà âm điệu chính của nó là nỗi buồn bàng bạc man mác. Cách thức dùng thực để tả hư độc đáo đó thực sự đã đem lại khoái cảm cho người đọc([5]). Chúng ta được thấy ở đây kỹ xảo lồng ghép tài tình chất liệu tự sự vào mạch cảm xúc trữ tình.

Thứ hai, nối kết mạch cảm xúc và dòng suy tư của tác giả thể hiện ở cả liên thơ thứ nhất và thứ tư, chúng tôi cho rằng, đây không phải là bài thơ nói về tình yêu hay xót thương người vợ đã khuất của thi nhân, mà chính là bài thơ “tư hoa niên”, hay “truy ức”, thể hiện cái “tình” như bản thân tác giả bài thơ đã nói. Lý Thương Ẩn đã mượn cây đàn 50 dây để ký thác hồi ức, bởi lẽ cây đàn là vật gắn bó với văn chương nghệ thuật, rất phù hợp để khơi gợi người đọc liên tưởng tới số mệnh của văn nhân, kẻ sĩ. Liên thơ thứ nhất ngoài việc thông báo nội dung bài thơ (“tư hoa niên”), còn cho ta biết, thi nhân đã “truy ức” trong tâm trạng xúc động như thế nào. Vậy thi nhân đã hồi tưởng những gì trong quá khứ của cuộc đời mình?

Thơ Lý Thương Ẩn, nhất là thất ngôn luật thi, không ít bài rất mơ hồ khó hiểu. Nguyên do chủ yếu, theo chúng tôi là bởi cách thức sử dụng chất liệu nghệ thuật rất đặc sắc của ông. Cách thức đó đã tạo nên bút pháp riêng và tạo ra trường nghĩa phong phú, sâu sắc và kín đáo, dễ khiến người đọc có thể cảm nhận theo nhiều cách khác nhau. Người ta thú vị trước “độ vênh” giữa ngôn và ý, giữa “tượng” và “hứng” trong thơ ông. Cũng như những bài thất ngôn luật thi ở đời Đường, thơ Cẩm sắt của Lý Thương Ẩn thường ẩn chứa sự “mông lung”, khó hiểu ở hai liên thơ giữa.

Khi tìm hiểu bài thơ này, chúng tôi đã tập trung hướng sự chú ý tới “những dấu hiệu về hình thức” của văn bản tác phẩm, đến “tính thơ” của tác phẩm. Theo chúng tôi, có hai điểm cần chú ý khi đọc bài thơ này: thứ nhất là đặc điểm cú pháp, cụ thể là hiện tượng tỉnh lược chủ từ và hiện tượng so sánh ngầm; thứ hai là mã nghệ thuật của điển cố và cấu trúc hình tượng thơ.

Các nhà Đường thi học đã lưu ý với chúng ta rằng, tỉnh lược chủ từ trong thơ trữ tình cổ điển của Trung Quốc nói chung và Đường thi nói riêng là hiện tượng xảy ra phổ biến. Trong bài Cẩm sắt, ở liên thơ thứ hai, chúng ta có thể nhận thấy, chủ thể trữ tình, mặc dù đang kể câu chuyện về Trang Sinh hay Vọng Đế, song kỳ thực là đang bộc lộ bản thân mình trong mối dây liên hệ so sánh mặc định với đối tượng được mô tả.

Về phương diện sử dụng điển cố, ở bài thơ này, chúng ta được chứng kiến nghệ thuật dùng “tượng” đặc sắc của thi nhân. Chúng tôi xin sơ đồ hóa thủ pháp nghệ thuật “biến hình” (người - vật) phi tự giác của Lý Thương Ẩn trong cả hai điển cố theo cách hiểu của mình và đưa ra cơ chế suy luận về ý nghĩa của nó như sau:

Điển cố  >

Nội dung thể hiện >

Ý nghĩa biểu trưng

Trang Sinh hóa hồ điệp

An nhiên tự tại

Thú nhàn thích

Vọng Đế hóa đỗ quyên

Hoài niệm cố quốc

Buồn hận sự nghiệp

“Trang Sinh hiểu mộng mê hồ điệp” chính là cách dùng chất liệu dưới dạng một câu chuyện mang màu sắc triết học có xuất xứ từ tản văn chư tử thời Tiên Tần, đó là thiên Tề vật luận trong sách Trang Tử, do Trang Chu (người cùng Lão Đam sáng lập học phái Đạo gia) sáng tạo nên. Trang Chu qua câu chuyện mà ông hư cấu, vừa thể hiện quan niệm, vừa kín đáo bày tỏ phương thức ứng xử nhân sinh tương hợp với tư tưởng triết học đó của ông.

Còn “Vọng Đế xuân tâm thác đỗ quyên” là cách dùng chất liệu huyền thoại dưới dạng một câu chuyện truyền thuyết; do vậy ý nghĩa biểu trưng của nó có phần mơ hồ. Nguyên nhân một phần là bởi mức độ xác thực của câu chuyện truyền thuyết về ông vua nước Thục. Câu chuyện truyền thuyết này đến nay đã không còn giữ được “dạng thức cổ xưa nhất” nữa, nó đã được những người đời sau “kể” theo cách thức ẩn dụ riêng của thời đại mình. Chứng tích của hiện tượng đó vẫn còn hiển hiện trong phần chú thích văn bản của các học giả Trung Quốc cả xưa và nay, đặc biệt là về đoạn kết cuộc đời Thục Đế. Người thì cho ông ta sau khi chết hóa thành chim đỗ quyên, người thì cho ông ta sau khi nhường ngôi đã vào núi ở ẩn. ở Việt Nam, tình trạng đó, thật thú vị, lại không xảy ra. Khác với một số học giả đương đại của Trung Quốc, hai học giả Việt Nam là Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim trong công trình hiệu đính và chú giải Truyện Thúy Kiều của mình, không hiểu dựa vào tư liệu nào (chúng tôi đưa ra dự đoán ở sau), đã chỉ rõ: “Tục truyền rằng, Thục Đế ngày xưa mất nước, chết hóa làm con quốc, đêm ngày sầu oán, kêu mãi không thôi”.

Khi lý giải điển cố này trong Cẩm sắt, chúng tôi đã nghiêng về giả thuyết cho rằng Thục Đế bị mất nước, nên khi chết đã hóa kiếp thành chim đỗ quyên, kêu những tiếng “nhớ nước” đến “đau lòng”, đó cũng là cách hiểu của thi nhân và học giả Việt Nam [Thơ Bà Huyện Thanh Quan trong bài Qua Đèo Ngang: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc - thương nhà mỏi miệng cái gia gia”]. Chúng tôi đã chú ý đi tìm đầu mối duyên do của hiện tượng tiếp nhận đã đạt đến độ trở thành “tâm thức cộng đồng” đó. Gần đây, khi tìm hiểu tiểu loại thơ vịnh vật của Trung Quốc, cụ thể là khảo sát một số bài thơ đề vịnh chim đỗ quyên trong thơ đời Đường như Tử quy của Cố Huống (727?-816?), Đỗ quyên của Đỗ Mục (803-852), chúng tôi đã nhận ra, đến thời kỳ Trung và Vãn Đường, quá trình lịch sử hóa câu chuyện truyền thuyết về ông vua nước Thục đã được hoàn tất: Cố Huống và Đỗ Mục đã coi đó là câu chuyện về nỗi hận mất nước của Thục Đế([6]). Trong bài thơ Đỗ quyên, Đỗ Mục không chỉ hiểu câu chuyện này theo nghĩa đó, mà còn mượn tiếng kêu ai oán của chim đỗ quyên để “ai điếu” cho khí số sắp tận của đế quốc Đại Đường. Sự định hình trong cách hiểu về điển cố này ở nhà thơ có thành tựu cao về thơ vịnh vật - Đỗ Mục - gợi cho chúng ta những suy nghĩ và dự đoán ban đầu về sự tiếp nhận Đường thi nói chung và điển cố đó nói riêng dưới dạng đã được cố định hóa về nội dung, thậm chí cả cách thức tượng trưng biểu nghĩa ở Việt Nam. Thi nhân Việt Nam thời trung đại đã hiểu và sử dụng điển cố này theo nhà thơ Đỗ Mục thời Vãn Đường. Lý Thương Ẩn, nhà thơ cùng thời với Đỗ Mục (hai ông được người đời xưng tụng là “Tiểu Lý Đỗ”), cũng là thi nhân đạt thành tựu cao về thơ vịnh vật, đã tiếp nhận và sử dụng điển cố này theo nghĩa đó.

Cùng với điển cố “Vọng Đế thác đỗ quyên”, Lý Thương ẩn còn nói tới “xuân tâm”, tức nỗi lòng thương xuân, tiếc xuân [của Vọng Đế]. Thi ca cổ điển Trung Quốc có rất nhiều những nỗi niềm ấy và thường thì nó gợi cảm thức về thời gian, cũng như liên hệ chặt chẽ với triết lý và ứng xử nhân sinh của thi nhân. Chẳng hạn, trong bài Sơn trung tống biệt, sau khi tiễn bạn xuống núi thực hiện giấc mộng công danh, Vương Duy đã thầm thì với người bạn vốn cùng ẩn dật với mình rằng: “Xuân thảo minh niên lục - Vương tôn quy bất quy?” (Sang năm khi cỏ xuân mọc xanh tươi - Vương tôn, chỉ người bạn, có trở về “sơn trung” ẩn dật hay chăng?); Mạnh Hạo Nhiên trong Xuân hiểu cũng kín đáo thổ lộ nỗi tiếc xuân đến xót xa tê tái của mình: “Xuân miên bất giác hiểu - xứ xứ văn đề điểu. Dạ lai phong vũ thanh - hoa lạc tri đa thiểu?” (Giấc xuân vừa chợt tỉnh - nơi nơi văng vẳng tiếng chim hót. Đêm qua như có tiếng mưa rơi - không biết hoa rụng nhiều hay ít?); Thôi Hạo cũng thế, trước khi bày tỏ ý định “quy hương” (ẩn dật) bất đắc dĩ của mình, ông đã nói tới một cảnh xuân trong “tâm tưởng” đẹp tựa như “mẫu gốc” trong Sở từ([7]): “Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ - xuân thảo thê thê Anh Vũ châu” (Trời quang mây tạnh, hàng cây ở Hán Dương trông rõ mồn một - xa xa, trên bãi Anh Vũ, cỏ xuân xanh tươi mơn mởn) v.v. Trong những câu thơ bộc lộ “xuân tâm” ở trên, thi nhân đều thể hiện nỗi “thương xuân” và thảng thốt với quy luật nghiệt ngã của thời gian, cảm nhận đến tận cùng giới hạn bé nhỏ, ngắn ngủi của đời người. Nỗi lòng của Vọng Đế “tiếc xuân” càng bộc lộ rõ khi nó được “thác” trong tiếng chim đỗ quyên, tiếng kêu ra rả, báo hiệu một mùa xuân đã lại qua. Như thế đủ thấy, “Vọng Đế xuân tâm thác đỗ quyên” chính là nỗi xót xa và sự thất vọng của Lý Thương Ẩn về một thời quá khứ không thể vãn hồi, về một thuở thanh xuân đã trôi qua không thể trở lại, đồng thời cũng thể hiện nỗi buồn hận về hành động nhập thế bất thành của mình. Lý Thương Ẩn thông qua tiếng đàn đã hòa trộn câu chuyện của người xưa với tình cảnh hiện tại của bản thân mình.

Đối với liên thơ thứ ba, một mặt chúng tôi so sánh cấu trúc của nhóm văn bản cùng loại; mặt khác liên tưởng và nối kết với mạch cảm xúc và suy tư của tác giả về những điều mà ông “truy ức” trong thời “hoa niên”. Cẩm sắt là một trong số tác phẩm thuộc kiểu bài thất ngôn luật thi có những sáng tạo độc đáo trong Đường thi; chẳng hạn các bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hạo, Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài của Lý Bạch v.v. Đó đều là những bài thơ tiêu biểu của thể thất ngôn luật nghiêng về thể hiện những cảm nhận và triết lý mang tầm vóc vũ trụ về thời đại và nhân sinh bằng chất liệu huyền thoại và thiên nhiên. Tất nhiên, cách thức lựa chọn và thể hiện các chất liệu đó ở mỗi bài thơ là khác nhau, song xu hướng chung cả trong sáng tác và tiếp nhận là ngày càng sâu sắc và tinh tế. Sự vi tế một mặt đem lại sức hấp dẫn đặc biệt cho các bài thơ đó; mặt khác cũng tạo nên tính phức tạp trong cách diễn dịch tác phẩm([8]). Từ việc khảo sát cấu trúc của kiểu loại thơ trên, chúng tôi cho rằng, trong liên thơ thứ ba của bài Cẩm sắt, Lý Thương Ẩn đã khắc họa những hình tượng thiên nhiên vô cùng lộng lẫy và rực rỡ, tác động một cách trực tiếp tới thị giác và gây xúc cảm mãnh liệt cho người đọc, đó là hình tượng “vầng trăng vằng vặc trên mặt biển xanh, tựa như giọt châu ứa lệ” và hình tượng “mặt trời ấm áp trên đỉnh Lam Điền, lung linh như viên ngọc tỏa khói”. ý nghĩa biểu trưng của hai hình tượng thiên nhiên này là gì? Khảo sát tiểu loại thơ sơn thủy của Trung Quốc, chúng tôi nhận thấy, hình tượng thiên nhiên ở liên thơ này tương đồng về kiểu loại và cùng một dạng thức cấu trúc với những hình tượng thiên nhiên tuyệt mỹ được mô tả trong các tác phẩm Vọng Lư Sơn bộc bố (Lý Bạch), Vọng Nhạc (Đỗ Phủ), Hoàng Hạc lâu (Thôi Hạo), Trừ Châu Tây Giản (Vi ứng Vật) v.v. Đó là bức tranh thiên nhiên được mô tả với một không gian khác biệt và đối lập gay gắt với không gian “xa mã huyên” (huyên náo ngựa xe), “trần võng” (lưới bụi) của chốn quan trường mà trước đó Đào Uyên Minh đã mô tả trong thơ điền viên. Hình tượng thiên nhiên trong Cẩm sắt tượng trưng cho cảnh giới của cái đẹp, đó là cảnh tượng bao la rộng lớn, cao cả lớn lao, trong trẻo nồng ấm; một vẻ đẹp hoàn mỹ đến tuyệt đối, trong đó vừa ẩn chứa triết lý nhân sinh và khẳng định bản ngã (phẩm chất cao khiết), vừa ký ngụ lý tưởng và bộc lộ khát vọng hướng tới và vươn tới của thi nhân. Nó đối lập với thực tại “cuộc đời như giấc mộng”, “quá khứ tốt đẹp đâu còn” (trong cảm nhận mang tính chủ quan của chủ thể trữ tình) ở liên thơ thứ hai, tạo nên sự đối lập - thống nhất và tính hoàn chỉnh của tác phẩm.

Những phân tích ở trên cho thấy, Cẩm sắt là bài thơ bộc lộ cảm nhận về thế sự hưng vong, cuộc đời hư ảo, thể hiện suy tư, hoài niệm của Lý Thương Ẩn về một thời “hoa niên” rất đáng nhớ của mình. Từ niềm tiếc nuối và nỗi hận khôn nguôi của thi nhân, chúng ta được thấy, ông không chỉ thể hiện cảm nhận “nhân sinh nhược mộng”, bộc lộ ý thú nhàn thích và nỗi đau sự nghiệp bất thành; mà còn bày tỏ khát vọng cháy bỏng vươn tới cảnh giới cao đẹp hoàn mỹ. Thế giới tinh thần phong phú ấy của ông dù mông lung song vẫn là điều “khả tri” đối với người đọc chúng ta hôm nay. Chính cái vẻ “mông lung mỹ” ấy đã biến Cẩm sắt trở thành cây đàn thanh âm phức điệu, qua bao tháng năm vẫn làm rung động trái tim con người, khiến ta như lạc vào cõi mê, hư hư thực thực, lẫn lộn nhân gian và tiên giới, thực tại và ảo ảnh, thật chẳng khác gì cảnh huống của Trang Chu trước kia, khi ông mô tả bản thân trong câu chuyện Trang Sinh hồ điệp mộng. Bài thơ trở thành một hiện tượng của văn hóa tiếp nhận, là đối tượng nghiên cứu của mỹ học tiếp nhận.

 2. ... đến tiếng đàn ở cuối Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Thực ra, chúng tôi đã đọc những câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du trước khi đến với Cẩm sắt của Lý Thương ẩn. Đó là những câu thơ Nguyễn Du mô tả tâm trạng Thúy Kiều qua tiếng đàn của nàng:

3199. Khúc đâu đầm ấm dương hòa!

3200. ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh? 

3201. Khúc đâu êm ái xuân tình!

3202. ấy hồn Thục Đế hay mình đỗ quyên? 

3203. Trong sao châu dỏ duềnh quyên!

3204. ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!([9])

Trong Truyện Kiều, ngoài đoạn thơ này, còn có đoạn thơ khác ở đầu thiên truyện Nguyễn Du mô tả tiếng đàn khi Kim - Kiều lần đầu gặp gỡ. Giáo sư Trần Đình Sử đã phân tích nghệ thuật sử dụng điển cố tài tình của Nguyễn Du ở cả hai đoạn thơ trên([10]). Chúng tôi từ cách tiếp cận của mình, cũng xin nêu một vài cảm nhận và lý giải đối với đoạn thơ Nguyễn Du sử dụng thi liệu từ bài thơ Cẩm sắt.

Có thể nói, việc Nguyễn Du sử dụng thi liệu từ bài thơ Cẩm sắt, một cách tự nhiên, đã gợi cho chúng tôi một loạt câu hỏi: Ông đã tiếp nhận và sử dụng nội dung bài thơ Cẩm sắt như thế nào trong Truyện Kiều? Ông hiểu nội dung bài thơ này ra sao? Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng điển cố và thi liệu từ bài thơ này?

Câu trả lời thật thú vị: Có lẽ do sự tương đồng về nội dung “truy ức” (hồi tưởng quá khứ) mà Nguyễn Du dường như có ý “để dành” bài Cẩm sắt làm thi liệu để mô tả nỗi lòng của Thúy Kiều khi nàng được đoàn tụ với người thân và người tình xưa vào lúc cuối đời. Cũng như Lý Thương ẩn, Nguyễn Du đã sử dụng hai liên giữa bài Cẩm sắt lồng ghép với tiếng đàn để khắc họa tiếng lòng của nàng Kiều. Điều đó cho thấy, Cẩm sắt của Lý Thương ẩn từ lâu đã đi vào kho tàng văn học và dòng chảy văn hóa, trở thành tri thức và kinh nghiệm thẩm mỹ không những của các nhà văn mà còn đối với cả người đọc. Chúng ta hãy ngắm nghía thi liệu đó xem Nguyễn Du đã nhào nặn sáng tạo thế nào qua cách thức xen kẽ giữa trạng thái cảm xúc hiện tại và dòng hồi tưởng quá khứ: 

Câu thơ trong Truyện Kiều

Thời gian và trạng thái tâm lý

3199. Khúc đâu đầm ấm dương hòa!

Hiện tại

3200. ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh?

Hồi tưởng

3201. Khúc đâu êm ái xuân tình!

Hiện tại

3202. ấy hồn Thục Đế hay mình đỗ quyên?

Hồi tưởng

3203. Trong sao châu dỏ duềnh quyên!

3204. m sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!

Hiện tại

Như vậy, liên thơ thứ hai bài Cẩm sắt đã được Nguyễn Du sử dụng làm chất liệu để thể hiện “những điều” mà nàng Kiều đã phải trải qua trong quãng đời dâu bể của mình. Cách thức này, về thời gian (quá khứ) là không có gì khác với Lý Thương Ẩn trong bài Cẩm sắt. Chỉ có điều, Nguyễn Du đã khéo léo đưa nội dung gợi nhớ quá khứ buồn hận, tiếc nuối của liên thơ này đan xen một cách tự nhiên, nhuần nhị với những tình cảm đầm ấm, hạnh phúc thời hiện tại, khiến cho niềm vui và hạnh phúc của nhân vật trữ tình tăng thêm ý vị nồng nàn, ấm áp sau những tháng năm bị vùi dập và xiêu dạt như chiếc bách giữa dòng đời, nếm trải tất cả những nỗi đắng cay, khổ nhục của cuộc đời, được đỗ bến bình yên, cập bờ đoàn tụ.

Dõi theo mạch cảm xúc của chủ thể trữ tình, ta còn thấy, cùng với việc xen kẽ các trạng thái tâm lý, Nguyễn Du còn tạo nên sự đối lập, giao thoa giữa những trạng thái cảm xúc ở bốn câu thơ lục bát đầu:

Câu thơ trong Truyện Kiều

Trạng thái tình cảm

Sự đối lập giao thoa

Khúc đâu đầm ấm dương hòa!

Niềm vui đoàn tụ gia đình

Hiện tại

?

Hồi tưởng

Ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh?

Cảm giác rùng mình kinh sợ về quãng đời đã qua

Khúc đâu êm ái xuân tình!

Niềm hạnh phúc riêng tư

Hiện tại

?

Hồi tưởng

Ấy hồn Thục Đế hay mình đỗ quyên?

Nỗi buồn hận, tiếc nuối

Sự đối lập ở đây không phải là đơn nhất, tách biệt, mà là sự đối lập thống nhất trong dòng chảy tâm trạng của nhân vật. Nó diễn tả tâm trạng của một người phụ nữ đã “nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay”, dù gặp lại người thân, thì cũng “đã đem mình” gửi chốn “am mây”, dẫu gặp lại người tình, thì cũng “đã tắt lửa lòng”. Từ góc độ phân tích tâm lý nhân vật, nếu ngược trở lại với đoạn “tái hợp” bắt đầu từ câu 3009: “Trông xem đủ mặt một nhà...”, chúng ta sẽ thấy, tâm trạng nàng Kiều khi ấy rất khác với người thân và người tình. Nàng không phải không có nỗi niềm “khát khao đã thỏa tấm lòng bấy nay” khi đoàn tụ, nhưng liền sau đó, nàng thể hiện mình như người đã được chuẩn bị rất chu đáo cho cuộc sống tương lai. Bằng giọng giãi bày, nhưng không kém phần cương quyết, nàng khéo léo từ chối niềm hạnh phúc lớn lao mà mọi người dành cho như muốn bù đắp lại quãng đời luân lạc của nàng. Mặc dù có tới hai lần nàng phải “chiều lòng” và “khôn lẽ chối lời” trước tình cảm vị tha và mừng vui thái quá của người thân và người tình, nhưng cuối cùng nàng đã từ chối được không chỉ ý tốt của Thúy Vân muốn chị “gương vỡ lại lành”, thực hiện “lời nguyền xưa”, mà còn khéo léo né tránh được lửa tình nồng nàn của Kim Trọng, người mà nàng coi là “quân tử khác lòng người ta” dám chấp nhận tất cả quá khứ “đã thừa xấu xa” của nàng, một lòng nối lại “tình xưa”. Trước khi “dìu dặt tay tiên”, gảy khúc nhạc “vui vầy”, Kiều dường như đã thoát ra được tình cảnh khó xử, nàng có phần thanh thản ôm đàn dạo khúc nhạc kể về cuộc đời đã “khổ tận đến ngày cam lai” của mình. Đó hẳn phải là một khúc nhạc vui, song không phải là niềm vui say mơ màng, rạo rực của những người đang tuổi thanh xuân yêu nhau, mà là cái vui của một người phụ nữ từng trải, lòng vẫn còn chất chứa đầy ắp những hồi ức đau buồn của quá khứ. Vì vậy trong tình cảm “xôn xao” niềm vui và hạnh phúc thời hiện tại, ta vẫn thấy đan xen những cảm giác “não nùng” của thời quá khứ, đúng như những gì tác giả Truyện Kiều cho chúng ta biết qua lời của người kể chuyện.

Một điều nữa có thể nhận thấy là, trong bốn câu thơ lục bát này, Nguyễn Du đã thay âm điệu chính trầm buồn trong bài Cẩm sắt bằng âm điệu đầm ấm” - “êm ái” - “trong” - “ấm vào câu thơ của mình; mặt khác lại sử dụng thủ pháp đồng hiện thời gian, vừa đối lập vừa đan xen niềm vui đoàn tụ gia đình và niềm hạnh phúc riêng tư (thời hiện tại) với những hồi ức hãi hùng về quãng đời 15 năm trôi dạt, cũng như nỗi buồn hận, tiếc nuối, tạo nên phức điệu đa âm sắc, thể hiện tâm trạng buồn vui lẫn lộn của nàng Kiều. Ta được thấy ở đây, trong khi thực hiện việc đối lập và đan xen, Nguyễn Du đã bỏ qua những chi tiết và sự kiện lịch sử, cụ thể trong câu chuyện mà ông lấy làm thi liệu, chỉ sử dụng ý nghĩa khái quát của nó mà thôi, hơn nữa ông lại sáng tạo nên những ý nghĩa mới mẻ. “Trang Sinh mộng hồ điệp” được Nguyễn Du dùng như một tín hiệu gợi cảm thức về cuộc đời tựa như giấc mộng, nhưng trong câu thơ của ông, ta lại thấy có thêm cảm giác rùng mình của nhân vật về quãng đời đã qua; “Thục Đế hóa đỗ quyên” cũng vậy, được dùng để nói về nỗi xót xa, buồn hận của nhân vật, nhưng nguyên do lại không phải là nỗi niềm “nhớ nước” của Thục Đế hay nỗi hận “hoài tài bất ngộ” (tiếc tài năng không gặp thời) của Lý Thương ẩn, mà là nỗi lòng tiếc nuối, khổ đau của nàng Kiều về hai chữ “vẹn tình”.

Tiếp ngay sau bốn câu thơ lục bát đầu, Nguyễn Du lại nhào nặn liên thơ thứ ba trong bài Cẩm sắt mô tả cảnh tượng thiên nhiên tuyệt mỹ, biến nó thành hai câu thơ lục bát mô tả tiếng đàn với khúc điệu vừa “trong”, vừa “ấm”, đem sắp đặt tài tình ở cuối đoạn thơ, tạo nên điệp khúc xốn xang niềm vui và hạnh phúc, kết thúc đoạn thơ với bao xúc cảm dồn nén của thiên truyện và cũng là khúc vĩ thanh có hậu của cuộc đời Nàng Kiều.

Nói tóm lại, qua đoạn thơ trên, chúng ta được chứng kiến sự tiếp nhận nhuần nhuyễn và tái cấu trúc đầy sáng tạo của nhà thơ Nguyễn Du đối với truyền thống văn học của Trung Quốc. Đó được xem là cuộc gặp gỡ tự nhiên, tri âm tri kỷ giữa hai thi nhân của hai dân tộc sống ở hai thời đại cách xa nhau. Tiếng đàn của Lý Thương ẩn đã vang qua cả không gian và thời gian dằng dặc, vọng đến đôi tai tinh tế và rung lên trong trái tim đầy xúc động của Nguyễn Du, khiến ông biến được những câu thơ mô tả tiếng đàn tưởng như rất khó hiểu của Lý Thương ẩn thành những dòng thơ giản dị và xúc động trong Truyện Kiều.

Đối với Nguyễn Du, kiểu tiếp nhận sáng tạo này chỉ là một điểm tiêu biểu trong một diện tiếp xúc rộng rãi của ông đối với thành tựu của văn học Trung Quốc. Việc mở rộng và đi sâu khảo sát toàn diện sự tiếp nhận của Nguyễn Du đối với văn hóa và văn học Trung Quốc trong sự nghiệp sáng tác của ông, cũng như việc mở rộng phạm vi khảo sát ra cả những tác gia văn học khác của dân tộc ta thời trung đại, chắc chắn sẽ giúp chúng ta có được những nhận thức chân xác hơn về các vấn đề lý luận và lịch sử văn học.  

                                                                                                                                                                             (3/2005 đến 1/2006)

------------------------------------------- 

([1]) Chúng tôi dựa theo bản tuyển chú của Mã Mậu Nguyên: Đường thi tuyển, Thượng Hải Cổ tịch Xuất bản xã, xuất bản và in lần đầu tháng 10 năm 1999, tr.737.

([2]) Theo học giả Lôi Khánh Dực: Cổ điển thi từ danh thiên chính giải, Học Lâm Xuất bản xã (Thượng Hải), in lần đầu tháng 6 năm 1996, tr.334.

([3]) Trần Bá Hải: Đường thi học dẫn luận, Đông phương Xuất bản Trung tâm, in lần 3 năm 1996, tr.23-24. Tác giả cuốn sách này cho rằng, “hứng tượng” là khái niệm tương đối phổ biến trong “thi luận” truyền thống của Trung Quốc. “Tượng” là hình ảnh sự vật được mô tả trong tác phẩm văn học..., có thể cảm nhận được bằng các giác quan; còn “hứng” là khái niệm chỉ thuộc tính mỹ học và hứng thú nghệ thuật kiểu “ngôn cận ý viễn”, “ý tại ngôn ngoại”, là cái được biểu hiện ẩn giấu trong “tượng”; hứng và tượng là một thể thống nhất, đòi hỏi sự chân thực, sinh động bên ngoài, sự say mê, hứng thú, hấp dẫn bên trong. “Hứng tượng” là khái niệm mỹ học riêng có của Đường thi, đặc biệt là thơ ca thời kỳ Thịnh Đường, là tố chất hoàn toàn mới được sản sinh sau khi có sự thống nhất biện chứng giữa hai truyền thống thi ca thời Hán Ngụy và thời Lục triều, nó cũng là tiêu chí đánh dấu sự thành thục về nghệ thuật của Đường thi.

([4]) Một số ý kiến cho Cẩm sắt vốn là loại thơ “vô đề”. Người biên tập lấy hai chữ đầu của bài thơ để gọi tên giống như các bài trong Thi kinh.

([5]) Lý Thương ẩn tiếp nhận kinh nghiệm này từ truyền thống văn học. Trước Lý Thương ẩn, đã có những tác phẩm phú và thơ mô tả tiếng đàn (mô tả cái vô hình), chẳng hạn thể phú ở đời Hán có Động tiêu phú của Vương Bao, Trường địch phú của Mã Dung; phú ở các đời sau có Cầm phú của Kê Khang và Sênh phú của Phan Nhạc (đời Tấn) v.v. Thơ đến đời Đường, ngoài một số tác phẩm bình thường, đã xuất hiện danh tác Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị v.v.

([6]) Vương Đức Minh, Lý Tô Lan, Vương Thư Duyệt: Cổ đại vịnh vật thi - tinh tuyển điểm bình. Quảng Tây Sư phạm Đại học Xuất bản xã, 1996. Cố Huống trong bài thơ tuyệt cú Tử quy viết: “Đỗ Vũ oan vong tích hữu thì - niên niên đề huyết động nhân bi.” (Đỗ Vũ – chỉ Thục Đế – chết oan uổng đã nhiều năm rồi, oan hồn hóa thành chim đỗ quyên năm này qua năm khác kêu gào bi thương đến mức thổ huyết làm rung động lòng người) [tr. 72]; Đỗ Mục trong bài ngũ ngôn luật thi Đỗ quyên cũng viết: “Đỗ Vũ cánh hà oan - niên niên khiếu Thục môn. Chí kim hàm tích hận - chung cổ điếu tàn hồn.” (Đỗ Vũ rốt cuộc vì nỗi oan gì - mà năm này qua năm khác hóa thành chim đỗ quyên kêu gào ở cửa Thục. Đến nay vẫn còn ngậm nỗi hận bao năm đó - cứ mãi điếu thương mảnh hồn tàn). Trên cơ sở những sáng tác này, mà những người biên soạn cuốn sách trên đã có thể chú thích rõ rằng: “Đỗ quyên, còn gọi là đỗ vũ, tử quy, tương truyền là oan hồn của Thục Vương Đỗ Vũ hóa thành. Thiên Thục Vương bản kỷ sách Thái bình ngự lãm chép: ‘Đỗ Vũ... tự lập làm Thục Vương, hiệu là Vọng Đế.’ Sau vì nước mất thân vong, hóa thành chim đỗ quyên, vì thế tiếng kêu buồn thảm, dường như đang điếu thương oan hồn của Thục Đế.” [tr. 120]

([7]) Các nhà chú giải Trung Quốc cho rằng, các bài thơ nói đến nỗi “tiếc xuân” ở trên đều sử dụng thi liệu trong bài Chiêu ẩn si (Sở từ): “Vương tôn du hề bất quy - xuân thảo sinh hề thê thê.” (Vương tôn đi chừ chẳng về - cỏ xuân mọc chừ mơn mởn).

([8]) Liên thơ này cách diễn dịch cũng rất phong phú, không chỉ ở Trung Quốc, mà còn ở nước ngoài. Tiêu biểu cho một cách rất khác với cách chúng tôi trình bày là phần chú thích và phần diễn giải văn bản tác phẩm của tác giả Vĩnh Sính trong bài viết: Về bài Cẩm sắt của Lý Thương ẩn: từ ý nghĩa bài thơ cho đến tiếng đàn sum họp của Thúy Kiều, in trong cuốn Hồn Việt, Nxb Văn học, 2003, trang 86 - 87.

([9]) Theo bản Truyện Thúy Kiều, Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim hiệu đính và chú giải, Nxb Văn hóa - Thông tin, H. 1995, tr. 204.

([10]) Trần Đình Sử: Thi pháp Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, 2002, từ trang 298 đến 304.

-----------------------------

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 7/2007, trang 99-110.

Top